NGỰ SỬ VĂN ĐÀN : PHAN KHÔI

ĐỖ NGỌC THẠCH

Phan Khôi (1) là người mở đầu cho phong trào Thơ mới với bài thơ Tình già. Phan Khôi là một nhà báo tài năng, một người tích cực vận dụng tư tưởng duy lý phương Tây, phê phán mạnh mẽ thói hư tật xấu của quan lại phong kiến và thực dân Pháp. Phan Khôi cũng là một trong số ít nhà báo tiếp thu nhiều tư tưởng mới, đa văn hóa từ Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp… Phan Khôi còn nổi tiếng vì sự trực ngôn, trước 1945 được mang danh là Ngự sử văn đàn. Ông phê phán chính sách cai trị của người Pháp một cách sát sườn, đối thoại với học giới từ Bắc đến Nam không e dè kiêng nể. Những năm 1956 – 1958 cũng vì cung cách nói thẳng ấy ông đã chịu tai họa trong vụ “Nhân văn-Giai phẩm” với bài báo nổi tiếng “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” rồi chết trong lặng lẽ vào năm 1959.

Trong giới văn nghệ, ai cũng phải thừa nhận Phan Khôi là một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa lớn, nhưng vì cái án Nhân văn – Giai phẩm cho nên sau khi ông chết, tên tuổi ông gần như bị quên lãng… Mãi đến ngày 5-10-2007, nhân 120 năm ngày sinh của ông, mới có một buổi tọa đàm tưởng niệm nhà văn- nhà báo Phan Khôi (1887-1959), do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tạp chí Xưa và Nay và gia đình đồng tổ chức tại Hà Nội. Rồi đến ngày 9-7-2010, NXB Tri Thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã tổ chức cuộc tọa đàm về Phan Khôi. Cuộc tọa đàm đã góp phần dựng lại chân dung Phan Khôi – một trí thức, một nhà báo lớn của báo chí Việt Nam 50 năm đầu thế kỷ 20. Những người tham gia buổi tọa đàm đều thống nhất với nhận định: Phan Khôi xứng đáng được coi là nhà khoa học đầu tiên của Việt Nam. Ông thể hiện sự am hiểu sâu sắc về nhiều lĩnh vực như trong các công trình đăng tải trên báo chí. Ông cũng là người có tinh thần phổ biến khoa học cho đại bộ phận dân chúng lúc bấy giờ. Tuy nhiên, các ý kiến tại buổi tọa đàm đều cho rằng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho tới nay, vị trí và vai trò của Phan Khôi trong lịch sử Việt Nam vẫn chưa được nhìn nhận một cách đúng mức.

Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, người đã có công sưu tập tác phẩm của Phan Khôi thành tài liệu Hồ sơ Phan Khôi (2) đã nhận định: “Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí; nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung Quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lí thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học”. Vì vậy, trong bài viết “Đọc lại Phan Khôi” này, chúng tôi chỉ xin tập trung sự chú ý vào những bài báo của Phan Khôi có liên quan đến văn hóa, văn học – điều làm nên nhà Lý luận, phê bình văn học Phan Khôi – người đi tiên phong trong lãnh vực này trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20.

Những năm 20, 30 của thế kỷ 20 là giai đoạn giao thời mà Hoài Thanh gọi là “Cuộc biến thiên vĩ đại”: giai đoạn xảy ra cuộc giao lưu văn hóa Đông Tây, nói chính xác thì đó là giai đoạn “xâm lăng văn hóa” của phương Tây đối với phương Đông. Văn hóa phương Đông đứng trước thách thức: bị phương Tây “thôn tính” hay tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của văn hóa phương Tây để “làm mới mình” đặng hòa nhập vào dòng chảy của thời đại. Hoặc nói như Dương Quảng Hàm: “Dân tộc ta vốn là một dân tộc có sức sinh tồn rất mạnh, trải mấy thế kỷ nội thuộc nước Tàu mà không hề bị đồng hóa, lại biết nhờ cái văn hóa của người Tàu để tổ chức thành một xã hội có trật tự, gây dựng nên một nền Văn học tuy không được phong phú, rực rỡ nhưng cũng có chỗ khả quan, có phần đặc sắc, thì chắc rằng sau này dân tộc ta cũng sẽ biết tìm thấy trong nền văn học nước Pháp những điều sở trường để bổ sung những chỗ thiếu thốn của mình, thứ nhất là biết mượn các phương pháp khoa học của Tây phương mà nghiên cứu lại các vấn đề có liên lạc đến nền văn hóa của nước mình, đến cuộc sinh hoạt của dân tộc mình, thâu thái lấy cái tinh hoa của nền văn minh nước Pháp mà làm cho các tinh thần của dân tộc được mạnh lên để gây dựng lấy một nền văn học vừa hợp với hoàn cảnh hiện thời, vừa giữ được cốt cách cổ truyền. Đó là nhiệm vụ chung của các bạn độc giả và văn gia nước ta ngày nay vậy”(*).

Phan Khôi là một trong những người đi tiên phong trong “Cuộc biến thiên vĩ đại” đó của lịch sử văn hóa nói chung và lịch sử văn học nói riêng. Vấn đề cấp thiết đặt ra lúc đó đối với cả nền văn hóa nói chung và văn học nói riêng là muốn tồn tại thì phải “Duy tân”, mà bây giờ chúng ta gọi là “Đổi mới”. Và Phan Khôi đã nhận thức rất chính xác, ông nói: “Muốn duy tân cải cách thì phải bắt đầu từ học thuật tư tưởng mà duy tân cải cách trước” và ông đã “thực hành” bằng hàng trăm bài nghị luận, bút chiến với một phong cách mạnh mẽ, đầy ấn tượng trong giai đoạn giao thời, đã tạo tiền đề tư tưởng cần thiết cho các cuộc cách tân hiện đại hóa của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Vì thế, có thể nói Phan Khôi là một trong những người khai sơn phá thạch ra loại hình phê bình văn học ở nước ta, một hoạt động không thể thiếu vắng trong một nền văn học mới, đầy biến động của thời kỳ hiện đại.

Đi đằng sau cuộc xâm lăng chính trị, lãnh thổ của Thực dân Pháp là cuộc xâm lăng về văn hóa, hay như người ta thường nói, đó là cuộc đụng độ về tư tưởng và văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Phan Khôi đã có ngay bài viết về vấn đề thời sự nóng bỏng này: Tư tưởng của Tây phương và Đông phương. Trong bài viết, Phan Khôi đã nêu ra ba điểm khác nhau cơ bản của phương Đông và phương Tây với sự phân tích rõ ràng, dễ hiểu đối với công chúng đông đảo : 1/ Tây phương chuộng khoa học, Đông phương chuộng huyền học ; 2/Tây phương trọng tự chủ, Đông phương trọng thống thuộc ; 3/ Tây phương quý tấn thủ, Đông phương quý an phận . Tuy nhiên, khi kêu gọi phải tiếp thu văn minh phương Tây thì Phan Khôi lại rất cực đoan: « Xem ba điều trên đây thì thấy ra hai cái tư tưởng Đông và Tây nó phản đối nhau như phương nam với phương bắc, như mặt trăng với mặt trời. Nay ta nếu muốn theo cách sanh hoạt mới của Tây phương, mà ta lại còn giữ cả tư tưởng cũ của Đông phương thì quyết không có thể được. âu là phải dứt bỏ tư tưởng cũ của ta mà theo tư tưởng của Tây phương, thì mới hiệp với cách sanh hoạt mới của ta ». Quả là lúc đó Phan Khôi chưa thể lý giải một cách biện chứng mối quan hệ giữa « truyền thống và cách tân » như hiện nay. Chính vì thế mà Phan Khôi đã phản đối quyết liệt chủ trương “tân cựu điều hòa” của Phạm Quỳnh (3) bằng bài viết “Bác cái thuyết tân cựu điều hòa » mà ngay mở đầu đã phản bác rõ ràng: ‘‘Mấy năm gần đây, ở nước ta có một số ít người bàn luận đến cái vấn đề tư tưởng cũ và tư tưởng mới, thì hầu hết đều chủ trương cái thuyết điều hòa, nghĩa là đem tư tưởng cũ và tư tưởng mới mà trộn lộn cùng nhau. Cái thuyết ấy mới nghe qua dường như có lẽ lắm, dễ nghe lắm, mà nghiền ngẫm cho kỹ, gạn hỏi cho cùng, thì gần gần thành ra vô nghĩa, không có thể đem mà thiệt hành ra được’’.Và kết thúc bài báo lại nhấn mạnh sự phản bác : ‘‘Cái thuyết điều hòa ở ta đây cũng có một phần bởi lời đồn huyễn “văn minh phá sản” đó mà ra. Những người chủ trương thuyết ấy sợ rằng nếu ta theo hệt như văn minh Âu châu thì cũng có ngày sẽ mang lấy đại hoạ như họ. Sợ như vậy thật là sợ hoảng, đúng như lời tục ngữ ta thường nói: “Chưa giàu đã lo ăn cướp”! Ta muốn ngóc đầu lên một chút đây mà còn e chưa nổi, lại còn có tài nào sức nào đủ gây ra cái đại họa ấy nữa kia? Theo các lẽ đã giải minh ra trên đây thì cái thuyết điều hòa không thể thiệt hiện ra được. Mà không những thế, về mặt lý luận, nó cũng không thành lập được nữa’’.

Trong bài báo Thi văn với thời đại, khi bàn về mối quan hệ giữa văn chương với cuộc sống, Phan Khôi đã nhấn mạnh đến hai yếu tố cơ bản của nghệ thuật văn chương là phải có hai cái đặc sắc : cái đặc sắc thứ nhất là vẻ đẹp (tính thẩm mỹ) của tác phẩm đặng lôi cuốn, thu hút người đọc và cái đặc sắc thứ hai là phải có dấu ấn của xã hội đương thời với tác giả (tính hiện thực lịch sử), – đó cũng chính là yêu cầu không thể thiếu đối với một tác phẩm văn chương hiện đại trong cuộc sống hiện nay: ‘‘Một bài thi, một bài văn, hay là một tập thi, một tập văn mà làm cho người ta quý trọng và lưu truyền được là nhờ có đặc sắc về hai đường: một là về đường mỹ thuật, hai là về đường lịch sử. Đặc sắc về mỹ thuật, nghĩa là thơ văn ấy hoặc tả cảnh hay, hoặc tả tình hay, đủ làm cho kẻ đọc đến mà sanh cảm, cũng như trong khi xem một bức vẽ hoặc xem một tấn tuồng mà giục nỗi vui buồn. Đặc sắc về lịch sử nghĩa là trong thi văn có lưu lại những cái dấu vết của xã hội đồng thời với tác giả; đời sau đọc đến có thể nhờ đó mà nhận ra cuộc đời hồi ấy hoặc ít hoặc nhiều, có thể đem thi văn ấy mà đối chứng với những điều nghi ngờ trong lịch sử. Từ xưa đến nay, những tay văn hào bất tử, thường là gồm cả hai mặt đó. Song le, về đường mỹ thuật thì hầu hết mọi người cầm bút viết văn ai ai cũng biết; đến như cái đặc sắc về đường lịch sử thì người ta thường không chú ý đến mà bỏ qua đi…Sự thuộc về lịch sử ấy tức trong bài nầy muốn nói rõ hơn một chút, gọi là thi văn quan hệ với thời đại’’.

Có thể nói, Phan Khôi là người duy lý cực đoan, coi “Luận lý học cai trị mọi sự ở đời”. Phải có thái độ hoàn toàn khách quan khi biện luận – đó là nguyên tắc sắt đá và nhất quán của Phan Khôi khi nghị luận, bút chiến. Nguyên tắc này được ông nói tới nhiều lần: “Người mình lại hay thiên trọng về cảm tình, tôi thấy nhiều việc đáng lấy lý mà nói, nhưng người ta cũng cứ tình mà thôi”; “Người Việt Nam ta thuở nay theo cái học cũ, mọi việc ít hay xét xử bằng lý trí (raison) mà cứ bằng tình cảm (sentiment)”;“Cái lối văn thuộc về tình cảm nó nuốt người ta mạnh lắm, có khi nó cướp mất cả phần lý trí”,v.v…Trong tranh luận, người ta thường dễ lẫn lộn tình cảm riêng đối với con người của kẻ tham gia tranh luận, với lý lẽ anh ta phát biểu. Điều ấy dễ làm mất tỉnh táo, mất tinh thần khách quan trong nhận thức chân lý. Trong bài “Con người và lời nói”, Phan Khôi cho rằng, trong xã hội ta “ai nấy ít trọng về lời nói mà chỉ chú trọng về con người”. Như vậy rất trở ngại cho những cuộc tranh luận học thuật. Vì thế, Phan Khôi nhất quán quan điểm “lạnh lùng khách quan”: “Chỉ nên lấy lời nói làm cái đối tượng (objet) cho sự biện luận chứ không nên lấy con người làm đối tượng” . Vậy trong nghị luận, bút chiến phải kiên quyết dứt bỏ tình cảm và đề cao lý trí. Đề cao lý trí tất phải coi trọng luận lý học. Phan Khôi nói tới điều đó một cách kiên trì: “Trăm sự ở đời cũng phải cần đến luận lý học; luận lý học cai trị cả mọi sự ở đời”; “Phải lấy luận lý học làm nền. Phàm một người đã nắm bút làm văn thì ít nữa phải biết qua luận lý học”; “Muốn cho nước ta từ nay về sau có một nền học thuật vững vàng thì thế nào cũng phải lập cái nền ấy trên lý luận học”; “Muốn cho thông thì chúng ta viết văn cốt phải đúng theo văn pháp và luận lý học”, v.v…Để thực hành nguyên tắc “Luận lý học cai trị mọi sự ở đời”, Phan Khôi đã tự lãnh trách nhiệm “Ngự sử văn đàn”, viết hàng loạt bài đính chính những sai phạm trong nhận thức và sử dụng các thuật ngữ, các ngôn từ, cách dùng hình ảnh của nhiều nhà văn, nhà báo đương thời.

Nhận trách nhiệm ngự sử văn đàn, tất nhiên Phan Khôi phải là tấm gương chuẩn mực. Và ông đã viết những bài nghị luận, phê bình của mình bằng một văn phong giàu tính khoa học, tính duy lý cao, lập luận chặt chẽ, hành văn mạch lạc sáng sủa, chứng cứ rõ ràng. Trong bài Văn chương và văn chương của nhà báo, Phan Khôi xác định rõ ba chuẩn mực của văn chương là Tín, đạt, mỹ và ông cắt nghĩa rõ ràng: ‘Về văn chương, không cứ đặt để làm sao, không cứ theo lề lối nào, người làm văn cốt phải giữ ba điều, là: tín, đạt, mỹ. Tín, nghĩa là văn phải cho tin. Trong một bài văn, kể chuyện thì phải cho thật, nói lý thì phải cho đúng; ấy là tín đó. Đạt, nghĩa là văn cho thông. Cái ý mình nghĩ trong óc thế nào thì viết ra trên giấy cũng thế ấy, làm cho người xem văn mình hiểu đúng như ý mình, mà khỏi hiểu ra đường khác hay là không hiểu chi cả; ấy là thông đó. Mỹ, nghĩa là văn phải cho đẹp. Tín và thông cũng đã gọi là đủ dùng trong sự viết văn rồi; song nếu muốn cảm người cho sâu, truyền đi cho xa thì phải cần đến cái đẹp. Lời cho nhã, ý cho mới, ấy là đẹp đó. Bất kỳ văn nước nào thời nào, dầu cho ở bên Tây, bên Tàu, hay là đời xưa, đời nay, cũng phải có đủ ba điều ấy thì mới gọi là văn được, mới gọi là văn hữu dụng được. Coi đó thì cái đẹp trong văn chương không phải là cái đáng khinh. Đáng khinh là văn không tín không thông chỉ có cái đẹp mà thôi; còn như đã tín đã thông mà lại còn thêm đẹp nữa, thì cái văn ấy ta rất nên quý chuộng’. Đối chiếu với những chuẩn của lý luận hiện đại (tín: tính chân thực; đạt: tính đại chúng, mỹ: tính thẩm mỹ) thì những điều mà Phan Khôi trình bày hồi đó đến giờ vẫn còn nguyên giá trị.

Nói về văn chương báo chí của nhà báo, Phan Khôi không chỉ chú ý đến những vấn đề lớn mà những vấn đề có vẻ tiểu tiết như cách dùng từ, đặt câu, dấu má… cũng không thể bỏ qua : « Về sự chúng ta viết báo bằng chữ quốc ngữ hiện thời đây, chúng tôi muốn cho hẵng “tín” và “thông” đi đã, chớ chưa vội nói đến cái “đẹp”. Điều đó ý chúng tôi cũng hơi giống với quý báo, chỉ khác một chút là chúng tôi nói chưa vội, mà quý báo nói không cần ấy thôi. Chúng tôi nói chưa vội, là vì chữ quốc ngữ của chúng ta ngày nay còn phân vân, chưa nhứt định, chưa có sách mẹo cùng các sách khác thuộc về phép làm văn, thì bước thứ nhứt là phải do chúng ta lập cái nền quốc văn cho vững chãi đã, rồi mới nói đến cái hay cái đẹp được; nghĩa là trước hết chúng ta phải tập viết văn cho đúng mẹo, cho thông. Hễ đã đúng mẹo, đã thông, rồi mới nhơn đó mà lập thành sách mẹo tiếng Việt Nam và lại nhơn đó lần lần làm ra các sách dạy phép làm văn, luyện đến cái hay cái đẹp, mà thành ra một nền văn chương Việt Nam vậy.

Thật thế, về sự viết văn, chúng tôi chưa hề khi nào nghĩ đến cái đẹp, mà chỉ cầu cho thông là đủ. Chúng tôi tưởng các nhà làm báo ta bây giờ, ai đã thông rồi mà bước lên đến cái đẹp là càng hay, còn ít ra cũng phải lấy mực thông làm hạn. Muốn cho thông, thì chúng ta viết văn cốt phải đúng theo văn pháp (tức là sách mẹo) và luận lý học. Tuy sách văn pháp và sách luận lý học của ta bây giờ chưa có, song chúng ta, những người làm báo đây, đều là do Hán học hoặc Tây học mà ra, thì khó gì mà chẳng lấy mẹo luật của văn nước người đem ghép vào văn nước mình? Vì về văn pháp, mỗi nước chỉ khác một ít, còn luận lý học thì đâu cũng giống nhau, hễ đã thông văn nước ngoài, thì cũng có thể suy ra làm thông văn nước mình được vậy…’’. Và đây là « Dọn vườn » báo Đuốc Nhà Nam : ‘’Cả một bài ấy phần nhiều câu không có chủ thể (sujet). Như, thình lình nổi lên nói rằng: “Nay đem hết tâm chí v.v…”, và “Lúc nhỏ theo thầy v.v…” thì chúng tôi chỉ có lấy ý mà hiểu, chớ như cứ theo văn pháp thì chẳng biết ai là kẻ hành động trong những câu nầy. Quý báo đã hô lớn lên rằng văn chương phải cho rõ ràng, mà như vậy thì chẳng biết có rõ ràng không nhỉ? Cũng trong bài ấy, “Học rồi, hành sự”, dứt ngay làm một câu. Chúng tôi chẳng khi nào tin rằng chỉ như vậy mà đứng làm một câu được, vì nó chỉ có mấy tiếng động từ (verbe) không mà thôi. Có một cách rất tiện cho những người nào thạo chữ Pháp mà muốn viết quốc ngữ là khi nào một câu quốc ngữ mà muốn biết nó có thể đứng được chăng, chỉ cứ nắm đó mà dịch ngay ra chữ Pháp thì biết. Mà nếu đem câu đó ra dịch từng tiếng một chữ Pháp, thì sợ e không đúng. Ấy là chỉ ra vài chỗ của quý báo không đúng với văn pháp. Cũng trong bài đó, mở ra nói rằng: “Thấy số báo nầy chắc ai cũng hỏi: Sao Dương Văn Giáo lại lãnh cầm Đuốc Nhà Nam?”

Chúng tôi chẳng hiểu nói như vậy là có ý nghĩa gì. Vả chăng, Dương Văn Giáo lãnh Đuốc Nhà Nam thì cũng như Diệp Văn Kỳ lãnh Đông Pháp thời báo, Dejean de la Bâtie lãnh Echo Annamite, v.v…, chớ có gì lạ đâu mà ai phải hỏi làm chi? Nếu tự mình chắc là ai cũng hỏi thì trước phải tỏ ra cái cớ tại làm sao; nếu không, thì chẳng ai hiểu ý mình làm sao cả. Trong bài xã thuyết số 10, lại có câu: “Mục đích bổn báo là soi dọi ngọn đuốc mới mẻ trong buổi bình minh”, câu này cũng hỏng. Bình minh là lúc sáng thiệt mặt, đối với lê minh là lúc mờ mờ sáng. Thường người ta dùng đuốc trong lúc trời tối, chớ đã sáng trắng rồi, còn ai cần đuốc làm chi? Vậy thì sao lại nói rằng dọi ngọn đuốc trong lúc bình minh? Ấy là chỉ ra một vài chỗ của quý báo không đúng với luận lý học.

Tự vị chữ ta đã có lâu rồi, bây giờ chúng ta cần nhứt phải viết đúng theo tự vị. Thế mà quý báo coi ý không chăm về chỗ đó, cho nên quảng cáo thì viết ra quản cáo, phô bày thì viết ra phô bài, song quý chủ nhiệm đã có nói rằng: “Tôi vẫn biết ai ai cũng viết “khó khăn” mà tôi muốn viết “khó khăng” ; đã tự ý muốn chi thì muốn, thì còn ai nói vào làm chi? Quý báo một nói ít chú trọng về văn chương, hai nói không chuộng ở lời văn mà chuộng ở tư tưởng; chúng tôi lại còn đem văn chương nói với quý báo, chi cho khỏi lấy làm rầy tai. Song chúng tôi tưởng, sự trung cáo nầy cũng là một cái bổn phận chúng tôi’’.

Tuy nhiên, do Phan Khôi duy lý tới mức cực đoan và quá sùng bái lô-gích hình thức, ông đã tỏ ra lúng túng khi lý giải những hiện tượng phức tạp, nghĩa là vừa mâu thuẫn vừa thống nhất. Ông chỉ thấy mặt đối lập, tính dị biệt mà không thấy yếu tố có thể giao lưu, trao đổi giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, giữa truyền thống và cách tân, giữa văn chương bình dân và văn chương bác học, giữa trực giác và duy lý, v.v… Đặc biệt, khi đối diện với sự tinh vi, phức tạp tới mức huyền ảo của thế giới cảm xúc của con người, mà đỉnh cao là Tình yêu thì “nhà duy lý” tỏ ra thúc thủ và giải thích rất máy móc…

Là một nhà “Luận lý học”, nhưng Phan Khôi có một tâm hồn tươi trẻ, sống động: “Thanh niên là vị thần của tôi thờ”- ông đã tuyên bố rõ ràng như vậy. Phan Khôi còn nói: “Tôi sẵn có cái tánh hay bông đùa, mà lâu nay lại khuynh hướng về cái lạc thiên chủ nghĩa (optimisme), thỉnh thoảng dù viết về điều trang nghiêm cũng “ trộm phép” mà “hí hước chút chơi”. Chính vì thế, có nhiều bài viết của ông chỉ là kể chuyện vui. Có thể nói, tính hài hước kết hợp với một tư duy phê phán sắc sảo, đã tạo ra ở Phan Khôi một lối viết châm biếm giễu cợt như một nét đặc sắc của phong cách văn nghị luận, bút chiến Phan Khôi. Ông viết một loạt bài gọi là tiểu phẩm hay hài đàm với tiếng cười đả kích vừa hoạt bát hiện đại học được của phương Tây, vừa sâu sắc mang cái thâm thúy của một nhà nho. Với hàng trăm bài viết phê phán những thói xấu của con người, những nhược điểm của dân tộc, những bất công trong xã hội thực dân phong kiến, Phan Khôi đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của loại văn châm biếm, trào phúng trong nền văn học nước ta lúc đó. Trong bài viết Cái địa vị khôi hài trên diễn đàn văn học, ông cho rằng, khôi hài là thể hiện “cái tư tưởng tự do”, “cái khí phách độc lập”, “Ai có tài thông minh tuyệt thế thì mới nói được chuyện giễu có duyên hay là làm được bài văn bông lơn có duyên”, kẻ “nói chơi không biết, nói thiệt không hay” là “ngu đần”.

Bác học mà bình dân, thông thái mà dân dã – đó là nhận xét khá thống nhất của các nhà nghiên cứu về Phan Khôi. Là một nhà Hán học uyên thâm, lại coi trọng việc tiếp cận văn hóa Pháp, ông tìm hiểu, bàn bạc cái gì cũng “xét cho đến nơi, tìm chứng cứ ở sự thật” nên đã tích lũy được một vốn tri thức rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực đủ cả cổ kim Đông Tây. Nói đến sự hình thành, hoàn thiện và phát triển của bộ môn phê bình văn học ở nước ta, Phan Khôi là một cây bút có đóng góp rất lớn. Có thể nói, ông là một trong số người viết phê bình văn học đầu tiên và xuất sắc ở nước ta, lại từng mang danh ngự sử trên văn đàn để “dọn vườn”, “đãi sạn” cho sách, báo đương thời, nên cái gì cũng phải đọc, phải có một cái đầu bác học, phải là một nhà thông thái …Nhưng bác học mà rất đỗi bình dân, thông thái mà vẫn dân dã – đó mới là đặc điểm phong cách của Phan Khôi. Để định hình được phong cách đó, phải hiểu thấu điều mình nói và cộng với tinh thần dân chủ và óc bình dân. Ông thường dùng những ví dụ cụ thể lấy trong đời sống thường ngày để giải thích các thuật ngữ, các quy luật, làm cho các vấn đề trừu tượng trở nên cụ thể, sinh động có thể ‘sờ tận tay, day tận mặt’ dễ dàng. Nói cách khác, ông đã bình dân hóa các lý thuyết cao siêu, trừu tượng. Đồng thời, ông có những cách so sánh ví von kết hợp với cách dùng thành ngữ, tục ngữ linh hoạt rất quen thuộc với dân gian, lẩy Kiều, nhại Kiều rất đúng chỗ… do đó vừa làm cho vấn đề ông đang trình bày trở nên sáng rõ, vừa có ý nghĩa châm biếm sắc sảo. Tất cả những ‘tiểu xảo’ của nghệ thuật viết văn phê bình, nghị luận đó, khi tập hợp thành ‘đạo quân chữ’ trong các bài viết của Phan Khôi thì nó đã trở thành một sức mạnh không thể lường trước của văn phê bình, nghị luận của Phan Khôi. Vì thế, việc tìm hiểu nghệ thuật viết văn phê bình, nghị luận của Phan Khôi vẫn còn là một bí ẩn!

Bài viết Phê bình lãnh đạo văn nghệ có lẽ là bài báo cuối cùng của “Ngự sử văn đàn” Phan Khôi. Lâu nay, người đọc chỉ biết lờ mờ rằng chính vì bài viết này mà Phan Khôi bị “đánh” cùng nhóm “Nhân văn-Giai phẩm”. Từ ngày có việc “phục hồi” lại sự nghiệp của Phan Khôi, người ta dường như vẫn còn né tránh bài viết này khi nói về Phan Khôi. Vì thế, tôi xin dẫn lại nguyên văn bài viết này để góp phần làm cho bức chân dung Phan Khôi thêm phần hoàn chỉnh và chân thực (2*). Tôi chỉ nêu một nhận xét nhỏ là: chính bài viết này đã thể hiện rõ nhất bản lĩnh của ngòi bút Phê bình Phan Khôi và nhân cách nhà văn của Phan Khôi – nó đưa Phan Khôi lên vị trí cao nhất trong Làng Văn Việt Nam, đặc biệt là khu vực Phê bình văn học. Phần mở đầu bài báo Phan Khôi viết: “có chi nói nấy, nói toàn những sự thực”; Và “Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?

Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?”.

Cái sự thật mà Phan Khôi muốn nói đó là : I. Về vấn đề tự do văn nghệ sĩ ; II. Về vụ Giai phẩm mùa Xuân ; và III. Về vụ giải thưởng văn học 1954-1955. Nếu chưa đọc bài báo này của Phan Khôi, thì cũng tức là chưa biết gì, chưa hiểu gì về Phan Khôi – tôi nghĩ là như vậy.

Những nhận định về Phan Khôi có nhiều, song hai nhận xét về Phan Khôi dẫn dưới đây rất đáng cho hậu thế suy ngẫm khi muốn “phục dựng” lại chân dung hoàn chỉnh của Phan Khôi:

Giáo sư Đinh Xuân Lâm nguyên Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, khi đã 83 tuổi nhưng vẫn nhớ như in những câu trong bài thơ “Tình già” của Phan Khôi, tác phẩm được cho là một trong những bài thơ mở đường Thơ mới, mà ông đã đọc gần 70 năm trước. Giáo sư còn nhắc đến cuốn tiểu thuyết “Trở vỏ lửa ra” (1939) của Phan Khôi để chứng minh rằng, Phan Khôi là một người toàn diện, không chỉ dịch văn, thơ, viết thơ, viết báo mà còn viết cả tiểu thuyết. Và GS Đinh Xuân Lâm kết luận: “Muốn dùng được Phan Khôi phải là người cực giỏi, cực tài. Chắc chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Còn Phan An Sa, con trai út của Phan Khôi thì nói về cha mình: Một trí thức trẻ mới ngoài 20 tuổi đã bị thực dân Pháp bắt bỏ tù 2 lần, một lần 18 tháng, một lần 3 năm, chỉ vì theo chân Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh để hoạt động yêu nước. Một nhà báo suốt thời tráng niên của mình lăn lộn trên văn đàn chỉ nhằm một mục đích cho hai tiếng nhân dân. Một nhân sĩ bỏ lại tất cả ở phía sau để dấn thân cho cuộc kháng chiến 9 năm và cuối cùng, một học giả sức cùng lực kiệt vẫn gắng gượng đóng góp sức mình, mong có được một vườn hoa văn nghệ đầy hương sắc của dân tộc. Một người như vậy không bao giờ đi ngược lại quyền lợi của đồng bào mình.

___________________________________________

Chú thích:

(*) Xin xem Đỗ Ngọc Thạch : NHÀ VĂN, NHÀ GIÁO DƯƠNG QUẢNG HÀM – MỘT NHÂN CÁCH SÁNG TRONG .

(1) Phan Khôi (1887-1959): quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Phan Khôi là con của Phó bảng Phan Trần (tri phủ Điện Khánh) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu). Phan Khôi học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi. Sau đó Phan Khôi gặp cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Châu Trinh và chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của hai cụ. Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo. Khi tờ tạp chí bị cấm ông tới Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náu. Ít lâu sau ông bí mật về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, ông bị bắt và bị giam tại nhà tù Quảng Nam đến năm 1914 thì được ân xá. Ra tù, ông lại về Hà Nội viết cho báo Nam Phong. Vì bất đồng với Phạm Quỳnh, ông rời Hà Nội vào Sài Gòn viết cho báo Lục Tỉnh Tân Văn. Năm 1920, ông lại trở ra Hà Nội viết cho báo Thực Nghiệp Dân Báo và báo Hữu Thanh. Năm 1928, Thực Nghiệp Dân Báo và Hữu Thanh bị đóng cửa, ông lại trở vào nam viết cho báo Thần Chung và Phụ nữ tân văn. Năm 1931, Phan Khôi lại trở ra Hà Nội viết cho tờ Phụ nữ thời đàm. Năm 1936, ông vào Huế viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương. Năm 1939, Sông Hương đóng cửa, Phan Khôi lại trở vào Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết. Sau năm 1945, tức sau CM/8, ông được Chủ Tịch Hồ Chí Minh mời từ Quảng Nam ra Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hóa. Ông ở Việt Bắc suốt 9 năm nhưng vì bị bệnh nên phải vào bệnh viện một thời gian. Cuối năm 1954 hòa bình lập lại, Phan Khôi về Hà Nội cùng với các văn nghệ sĩ khác. Trong thời gian 1956-1957, là một trong những người thành lập tờ Nhân Văn và có các bài phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ, ông bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời năm 1959 tại Hà Nội. Khi mất, ông được chôn cất tại nghĩa trang Mai Động, sau đó, theo cơn biến động, các ngôi mộ buộc phải thuyên chuyển, bị san phẳng đi. Mộ ông Phan Khôi đã nằm trong những ngôi mộ vô thừa nhận không ai biết, đến nay ngay cả con cháu ông cũng không biết mộ ông nằm ở đâu. Phan Khôi là hội viên Hội nhà văn VN, từng làm giám khảo trong các giải văn học của hội nhà văn VN thời kỳ đầu.

Tình Già

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
-“Ôi đôi ta tình thương thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng;
Ðể đến rồi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
– “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng ấy, chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng, mà tính việc thủy chung?”
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ nơi đầt khách gặp nhau!
Ðôi mái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi.

(2) Hồ sơ Phan Khôi : do nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân sưu tầm và tuyển chọn : (http://www.viet-studies.info/phankhoi; http://lainguyenan.free.fr/pk). Những trích dẫn trong bài viết đều lấy từ nguồn này. Đó là các bài báo Phan Khôi viết trong các năm 1928, 1929, 1930, 1931, đăng trên các báo ở Sài Gòn:< Phụ nữ tân văn, Trung lập, Đông Pháp thời báo và các báo ở Hà Nội: Đông Tây , Phổ thông . Bộ sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo, do Lại Nguyên Ân sưu tầm, đã được xuất bản những tập sau: Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1928 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn; NXB Đà Nẵng, 2003); Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1929 (Lại Nguyên Ân st và biên soạn; in 2005); Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1930 (Lại Nguyên Ân st và biên soạn; in 2006); Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân st và biên soạn; NXB Hội Nhà văn – Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Đông Tây xuất bản – 2007); Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn (Lại Nguyên Ân st, biên soạn; NXB Hội Nhà văn – TT Ngôn ngữ & VH Đông Tây, 2007); Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1932 : (Lại Nguyên Ân St, Biên soạn; NXB Tri thức, H.2010).

(2*) Xin xem nguyên văn bài viết Phê bình lãnh đạo văn nghệ rút từ “Hồ sơ Phan Khôi”:

Ngày 14 tháng 7 trước đây, một anh bạn trẻ đến với tôi, ngỏ ý muốn tôi viết một bài cho tập Giai phẩm mùa Thu, tôi nhận lời, và viết cái bài nầy.
Tôi không phải không nhớ nhập tâm rằng cái Giai phẩm mùa Xuân đã gây ra một cảm giác nặng nề cho giới văn nghệ, nhưng mà tôi cứ viết. Là vì tôi nghĩ thấy mùa thu không thể giống được với mùa xuân. Thầy Mạnh Tử nói rằng “Bĩ nhất thời dã, thử nhất thời dã”. “Thời” là mùa thu, mùa nào tiết khí ấy, mà cũng mùa nào thức ấy.
Huống chi anh bạn trẻ có cho tôi biết rằng Giai phẩm mùa Thu sắp in ra là để góp một phần nhiệm vụ chuẩn bị và xây dựng cho Đại hội Văn nghệ Toàn quốc tháng 11 sẽ tới, tôi cũng muốn đóng góp chút ít cái nghĩa vụ ấy, thì đó là dịp tốt cho tôi viết.
Lại huống chi cái tôi viết đây là bằng văn xuôi, có chi nói nấy, nói toàn những sự thực, tôi không làm thơ, trong đó không có cái gì nhiêu khê, bí hiểm, như “cái bình vôi” của Lê Đạt, “con chó đói” của Trần Dần, “cái chổi quét rác rưởi” của Phùng Quán, nó như ruột voi, như phổi bò, suôn đuồn đuột mà xốp xồm xộp, ai đọc cũng thấy ngay tôi nói gì, khỏi phải hiểu ý nầy ra ý khác thì tôi tưởng tôi nên viết lắm.
Tôi muốn nói sự thực. Nhưng có người bảo rằng “có những cái sự thực không nên nói”. Tôi không tin. Đó là ở dưới chế độ nào kia, chứ ở dưới chế độ của chúng ta, đã lấy phê bình, tự phê bình làm võ khí, thì còn có cái sự thực nào là cái sự thực không nên nói?
Tôi muốn phê bình. Nhưng có người lại bảo rằng “phê bình nội bộ thì được, không nên viết trên sách báo, bên địch chúng thấy chúng sẽ xuyên tạc ra”. Tôi cũng không tin. Cái thời kỳ “đóng cửa dạy nhau” đã qua rồi, ngày nay chính là ngày có mâu thuẫn gì giữa nội bộ cần phải giải quyết trước mặt quần chúng nhân dân, không nhờ ánh sáng của quần chúng nhân dân soi dẫn cho, thì không thể giải quyết nổi. Vả lại, đã nhận rằng ăn của nhân dân, làm việc cho nhân dân, nhân dân là chủ, có quyền kiểm tra mọi việc, thì sao lại cứ giấu im ỉm với nhau, không cho nhân dân biết?
Còn như sợ “bên địch xuyên tạc” thì chỉ là cái cớ mượn để mà giấu im ỉm. Bên địch hà tất đợi đến có cái gì mới xuyên tạc? Chó sủa hà tất phải có bóng người đi qua. Đã là bên địch thì nó cứ dựng đứng chuyện lên, tôi thử kể ra đây một mẩu. Tháng tư năm ngoái, tôi đi vào khu V, nghe đồng bào thuật lại rằng trước đó độ một năm, lúc thủ tướng Phạm Vãn Ðồng đi dự hội nghị Giơ-ne-vơ, đài phát thanh Sài Gòn nói rằng “đó là tại Hoàng Minh Giám, bộ trưởng ngoại giao, đã bị thủ tiêu rồi nên Phạm Văn Đồng lên thay”. Thật, ông nào nói “bên địch xuyên tạc” cũng nên khen ông ấy là tử hơn bên địch lắm lắm vậy.
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập lên đã 12 năm rồi, vững như trồng rồi, được cả nhân dân toàn quốc tín nhiệm rồi, tha hồ cho đứa nào vu cáo, đặt điều nói xấu, cũng không còn sợ thay, nữa là thứ đồ xuyên tạc.
Bây giờ chúng ta làm gì? Đành rằng chế độ của chúng ta là tốt, nhưng chúng ta đây là ai? Chúng ta đây là những người từng sống dưới chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc hoặc nhiều hoặc ít, những tư tưởng xấu xa tiêm nhiễm của chế độ xấu xa ấy còn rớt lại trong đầu óc chúng ta hoặc ít hoặc nhiều. Do đó sinh ra những hiện tượng xấu xa mà chúng ta chỉ có bịt mắt lại mới không thấy. Bây giờ chúng ta phải bạo gan nhìn thẳng vào những cái hiện tượng đen tối ấy, vạch trắng nó ra, yêu cầu nhau sửa chữa. Sửa chữa đến tận gốc tư tưởng. Có như thế, chế độ của chúng ta mới tốt đẹp thêm, bền vững thêm, chúng ta mới xứng đáng là người mác-xít, là người cộng sản chủ nghĩa, là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chúng ta muốn “củng cố miền Bắc” à? Tôi tưởng đó là một việc trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa cũng như phát triển kinh tế để củng cố miền Bắc.
Bởi những lẽ đó, tôi viết bài nầy phê bình lãnh đạo văn nghệ của Hội Văn nghệ Việt Nam, cái cơ quan mà tôi sống trong đó tám chín năm nay từ khi nó mới bắt đầu thành lập ở Việt Bắc tới giờ, và phê bình rất thẳng thắn.
Hồi còn ở Việt Bắc, đường lối văn nghệ có vẻ giản đơn lắm. Tóm lại là theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa hiện thực xã hội để phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân, nhất là phục vụ cho cuộc kháng chiến trước mắt. Những người công tác văn nghệ lúc bấy giớ có làm đúng và đầy đủ như thế không, chưa nói đến; một điều có thể nói chắc là ai nấy đều cố gắng đi theo đường lối ấy. Đối với lãnh đạo, họ có thắc mắc gì không? Hầu như không có thắc mắc gì cả. Nếu có thì cũng đã chín bỏ làm mýời, vì trong thời gian đó, cái vĩ đại, cái gian khổ mà vinh quang của cuộc kháng chiến ngập trên người họ, họ đang để lòng mà nghĩ đến kháng chiến, không nghĩ đến chuyện khác.
Ở đây tôi không đi sâu hơn, không đi tìm cái cớ tại làm sao mà sau khi thắng lợi trở về thủ đô, lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc đối với lãnh đạo; tôi chỉ đưa ra cái hiện tượng không tốt ấy sau khi trở về Hà Nội hai năm nay.
Thình lình tôi dùng cái danh từ “quần chúng văn nghệ” chắc có người thấy mà lấy làm chướng mắt. Nhưng không dùng thì không lấy gì đủ chỉ rõ một cái hiện tượng: cái hiện tượng đối lập, một bên là lãnh đạo văn nghệ, một bên là quần chúng văn nghệ. Trước kia, trong thời kháng chiến, lãnh đạo với thứ quần chúng ấy là một, mà bây giờ là hai. Thêm một điều đáng chú ý, là cái thứ quần chúng ấy, hiện nay, không chỉ là văn nghệ sĩ theo kháng chiến ở Việt Bắc, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, mà còn văn nghệ sĩ ở vùng Nam bộ, ở khu V ra tập kết nữa, một thứ quần chúng khá đông đảo, hễ lãnh đạo không khéo thì nó dễ thành ra đối lập.
Ở dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải đi đến không đối lập, hễ còn có đối lập, là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.
Sở dĩ có cái hiện tượng ấy là bởi trong lĩnh vực văn nghệ chúng ta hai năm nay có những điều sai lệch về lãnh đạo mà tôi sẽ cử đại khái ra như dưới đây. Đây là những việc nổi bật lên, tôi thấy rõ thì tôi nói; còn những việc khác, về mặt tổ chức, về mặt hành chính tôi không biết cho lắm thì tôi không nói.

I. Về vấn đề tự do văn nghệ sĩ

Sau khi về Hà Nội không lâu, giữa một cuộc tọa đàm ở trụ sở Hội Văn nghệ, một cán bộ cao cấp lấy tư cách cá nhân đề ra cái vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”. Cái vấn đề ấy được giải thích là: Có một số văn nghệ sĩ nào đó đòi tự do hay là có ý đòi tự do, mà tự do một cách bừa bãi, đến nỗi “ví như một kẻ kia đi trên đường phố, thấy có người ôm cái cặp da đẹp, giật ngang lấy đi, rồi nói rằng đó là tự do của mình vì mình thích cái cặp da.” Do đó, kết luận là: phải có lãnh đạo, văn nghệ sĩ phải ở dưới quyền lãnh đạo.
Tôi thấy vấn đề đặt như thế không đúng. Sự thực trước mắt chúng ta không hề có như thế.
Bao nhiêu văn nghệ sĩ từng theo kháng chiến, không luận ở Việt Bắc, ở Nam bộ, ở Khu V, đều đã ở trong Hội Văn nghệ, đều đã bằng lòng chịu lãnh đạo rồi, nếu họ không bằng lòng chịu lãnh đạo thì họ đã không ở trong Hội Văn nghệ. Còn những văn nghệ sĩ ở vùng mới giải phóng, họ còn ở lại đây tức là họ rắp tâm chịu lãnh đạo, nếu không thì họ đã đi vào Nam. Tóm lại, văn nghệ sĩ hiện nay có mặt ở miền Bắc không ai đòi tự do bừa bãi hết, không ai định “đánh giật cặp da” hết, tôi không biết vì sao lại đặt ra vấn đề ấy.
Quả thật như vậy, văn nghệ sĩ của chúng ta chẳng những đáng yêu mà lại đáng thương nữa. Họ biết trước kia họ đã đi sai đường, họ ngoan ngoãn chịu lãnh đạo. Mồ ma Tô Ngọc Vân, anh là một họa sĩ cụp vẽ mỹ nhân, năm 1948, anh còn vẽ bức tranh màu đề là “Hà Nội đứng lên”, trình bày một người thiếu phụ tuyệt đẹp đứng hiên ngang trong đống lửa, chung quanh là những cái bếp đổ vì bom đạn. Thế mà sau đó anh chừa hẳn cái vai cụp ấy. Ở Triển lãm Hội họa năm 1952, trong một bức tranh không có thể không có phụ nữ, thì anh vẽ một đám bà già và gái bé. Còn Thế Lữ, có lần tôi hỏi tại sao anh không làm thơ như trước kia. Anh trả lời rằng đợi đến bao giờ anh “chỉnh” lại được tâm hồn, cảm thông được với quần chúng cần lao, bấy giờ anh sẽ làm. Thứ văn nghệ sĩ như thế, mà nói họ đòi tự do, dù chưa phải là tự do bừa bãi, cũng đã oan họ lắm rồi, oan mà không có chỗ kêu.
Có lẽ bởi nhìn thấy ở một khía cạnh nào rồi nhận định hẳn như thế, nên từ đó lãnh đạo gắt hơn, kỳ tiêu diệt thứ tự do ấy của văn nghệ sĩ. Nhưng, sự thực, thứ tự do ấy vốn không có thể bị tiêu diệt, mà cái cá tính của văn nghệ sĩ, cái nghệ thuật tính của văn nghệ, nhân đó, tuy chưa bị tiêu diệt, chứ cũng đã bị thương.
Chưa nói đến cá tính và nghệ thuật tính. Ngay đến ý kiến, ngôn luận của quần chúng văn nghệ dù rất bình thường, không có gì hại, cũng bị kìm hãm. Tôi là một người đã chịu cái điều khó chịu ấy, tôi nói ra đây tưởng không có ai ác đến nỗi bảo tôi là dựng đứng hay xuyên tạc như bên địch.
Sau khi về Hà Nội mấy tuần lễ, có một cuộc họp mặt văn nghệ sĩ với mấy đồng chí văn nghệ Liên-xô. Một đồng chí nói rằng mình vì không đọc được tiếng Việt cho nên không biết văn học Việt như thế nào, chứ còn mấy ngành khác như nhạc, họa, kịch đều thấy có tiến bộ cả. Nhân đó, tôi phát biểu ý kiến, đại khái tôi nói văn học Việt vì những điều kiện nào đó hạn chế, nên hiện thời nó còn thấp kém lắm, chưa theo kịp sự tiến bộ của mấy ngành kia. Lại, trong một cuộc họp khác sau đó, nói về âm nhạc, có mấy người đề cao nhạc cổ Việt Nam. Tôi tuy dốt âm nhạc chứ cũng biết rằng nhạc cổ của ta không cao đến cái mức ấy, bèn lại phát biểu ý kiến. Tôi thuật lại chuyện nghe ở người khác rằng có một nghệ sĩ nước bạn phê bình điệu hát chèo, trong đó đệm nhiều những “a ý a”, “tình tính tang”, còn đeo tính chất nguyên thủy. Mấy hôm sau, tôi gặp ông Hoài Thanh ở chỗ thang gác từng thứ hai của trụ sở Hội Văn nghệ, ông bảo rằng mấy lần phát biểu ý kiến của tôi đều đáng phê bình, nhất là lần sau, sao lại bằng vào lời một nghệ sĩ nước ngoài mà phủ định nhạc cổ? Tôi chưa kịp nói gì thì ông đã đi xuống khỏi thang gác. Tôi vào phòng riêng, nằm nghĩ mà tức lắm, không tức gì với ông Hoài Thanh mà tức với lãnh đạo. Từ đó có mặt trong cuộc họp nào tôi cũng không phát biểu ý kiến. Có anh em hỏi tôi sao không phát biểu. Tôi trả lời rằng vì không có ý kiến gì khác. Nhưng, thực ra, có ý kiến gì khác tôi cũng không thèm phát biểu. Nên nói thêm rằng tôi mong ông Hoài Thanh đưa tôi ra phê bình lắm, nhưng may làm sao không thấy đưa tôi ra phê bình, vì cái sự phê bình được coi là võ khí ấy rất hiếm có trong cơ quan chúng tôi: hai năm nay chỉ có hai lần, một lần phê bình thơ Việt Bắc, một lần phê bình bài thơ của Trần Dần mà sau đây tôi sẽ nói đến.
Đó là lãnh đạo nghiệt ngã về nói; đây là về viết.
Tháng 10 năm ngoái, tôi được cắt cử nói chuyện trong cuộc kỷ niệm Lỗ Tấn. Trước khi nói, tôi phải viết ra trình qua lãnh đạo xem. Trong bài viết, có chỗ tôi nói Lỗ Tấn thông hiểu chủ nghĩa Mác lắm, nhưng trong văn chương của ông không hề dùng những danh từ mác-xít, mỗi khi đọc, làm tôi nghĩ đến con tằm: con tằm ăn dâu rồi nhả ra tơ, nếu nhả ra dâu thì không phải là con tằm. Ông Nguyễn Tuân hỏi tôi: “Nói như thế là định viser (ám chỉ) ai?” Đề nghị tôi nên chữa. Tôi lấy làm lạ, tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được; tuy vậy, tôi cứ hứa sẽ chữa. Một chỗ khác, nói về lối phiên dịch, Lỗ Tấn chủ trương trực dịch. Ông Hoài Thanh bảo tôi phải chữa, lấy lẽ rằng phiên dịch có nhiều lối, nếu lấy Lỗ Tấn làm khuôn mẫu thì Hồ Chủ tịch dịch Tỉnh ủy bí mật, không trực dịch, chẳng là không đúng hay sao? Tôi biết rõ rằng cái câu nói đó chỉ là thuật lại cái chủ trương của Lỗ Tấn, chẳng hề lấy làm khuôn mẫu, cũng chẳng hề đả động gì đến việc dịch của Hồ Chủ tịch hết, những tôi không cãi, cũng cứ hứa sẽ chữa, mà thật, tôi đã chữa ngay trong bản thảo trước mặt ông Hoài Thanh. Tôi tuy nhũn như con giun đối với lãnh đạo thể ấy, nhưng khi nói trước công chúng, tôi cứ nói theo nguyên văn của tôi, không chữa một chữ nào, vẫn không gặp sự phản ứng nào trong đám thính giả.
Đó là cái thói kỵ húy trong văn chương của thời phong kiến còn rớt lại. Thuở Thiệu Trị, ở trường thi hương Thừa Thiên, Đặng Huy Trứ vào trường thi, trong văn có câu “vi gia miêu chi hại”, nghĩa là làm hại giống mạ tốt, nhưng “gia miêu” là tên làng các vua triều Nguyễn [1] , quan trường sợ bóng sợ gió, sợ như thế có thể hiểu ra là làm hại làng của vua, bèn đánh rớt bay. Lại thuở Tự Đức, cũng trường thi Thừa Thiên, Lương Gia Hựu cũng vào trường thi, trong văn có câu “vi thiên tử chi ấp”, chữ “ấp” đó nghĩa là kinh đô, thế mà quan trường sợ có thể hiểu nôm na rằng thiên tử ôm ấp cô gái nào, cũng đánh rớt bay. Thử so sánh mà xem, có phải mấy ông lãnh đạo của tôi cũng sợ bóng sợ gió, cũng kỵ húy như mấy ông quan trường ấy không? Người ta làm cho tôi cảm thấy qua việc ấy rằng nước Việt Nam ngày xưa, triều đại là triều đại Thiệu Trị, Tự Đức, cái nguồn văn chương là Tứ thư, Ngũ kinh, còn nước Việt Nam ngày nay, cũng là triều đại gì đó, chỉ khác cái nguồn văn chương là mác-xít, chứ cái thói kỵ húy của quan trường thì không khác.
Trở lại vấn đề “tự do của văn nghệ sĩ”.
Thực ra thì, như trên đã nói, văn nghệ sĩ không đòi tự do bừa bãi, họ chịu ở dưới quyền lãnh đạo, chỉ duy cái vấn đề họ đặt ra là lãnh đạo phải như thế nào. Nói như thế cũng chưa hết ý. Phải nói rằng văn nghệ sĩ cũng muốn được tự do, nhưng họ chỉ yêu cầu được tự do trong nghệ thuật.
Đành rằng văn nghệ phục vụ chính trị, cho nên chính trị phải lãnh đạo văn nghệ. Nhưng phải hỏi: chính trị nếu muốn đạt đến cái mục đích của nó, thì cứ dùng những khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn nghệ? Trả lời cho thành thật, e chính trị phải vỗ vai văn nghệ mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mầy là vì tao muốn lợi dụng cái nghệ thuật của mầy. Đã cởi mở với nhau như thế rồi, văn nghệ đồng ý. Nhưng phần nghệ thuật nầy là phần riêng của văn nghệ, chính trị không bao biện được, nó phải đòi tự do trong phần ấy. Như thế, tưởng chính trị cũng lấy lẽ gì mà không đồng ý. “Hai bên đều có lợi”, cái nguyên tắc ấy, ở ngày nay, nó thích dụng trong bất cứ một sự hợp tác nào.
Nhưng hai năm nay, lãnh đạo văn nghệ của chúng ta đã đi quá trớn mà không giữ đúng cái giao ước bất thành văn ấy. Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.
Trong văn nghệ, không cứ về ngành nào, sáng tác hay “sản xuất”, đều hầu như bị Ban Thường vụ của Hội xỏ sẹo dắt đi, hay quá lắm là nhúng tay vào. “Phục vụ công nông binh” và “phục vụ kịp thời”, cái đó đã đành rồi; “quần chúng văn nghệ” bực mình vì còn phải chịu mệnh lệnh của lãnh đạo ngoài những cái đó.
Tức như trước đây trong việc chấm giải thưởng về nhạc. Có một bài nhạc, Ban chấm giải (gồm những nhạc sĩ chuyên môn) đặt vào hạng thấp, thì Ban Thường vụ bảo phải nhấc lên hạng cao, lấy lẽ rằng “lời” nó hay và đúng chính sách. Ban chấm giải bầy rằng tuy “lời” hay mà “nhạc” tầm thường nên để hạng thấp, nhưng không được, rốt lại cũng phải nhắc lên hạng cao. Một anh nhạc sĩ trong Ban chấm giải thuật chuyện ấy cho tôi nghe và phàn nàn rằng thế thì làm thơ làm văn cho hay và đúng chính sách cũng được, việc gì phải làm nhạc và phải giao cho nhạc sĩ chấm? Tôi cho phàn nàn như thế là có lý lắm, trừ ra khi nào Ban Thường vụ cũng là nhạc sĩ chuyên môn thì vấn đề còn phải thảo luận lại.
Để rồi đến ngày Đại hội, trong mỗi ngành sẽ có người đứng lên nói những sự thực như thế ra. Tôi ở ngành văn, tôi đã kể một chuyện về viết như trên kia cũng đủ thấy là khó chịu rồi. Cái sự bẻ bai bẻ họe của bà già đối với nàng dâu, hà tất phải kể ra hàng tràng, thiên hạ mới biết.
Ông Nguyễn Tuân và ông Hoài Thanh đều là nhà văn nổi tiếng, tôi không nói các ổng không có thẩm quyền về nghệ thuật viết văn. Nhưng các ổng có nghệ thuật của các ổng, còn tôi có nghệ thuật của tôi. Trong nghệ thuật ngụ cái cá tính của mỗi người một khác, do đó nghệ thuật tính của văn nghệ của mỗi tác giả một khác. Có thế thì mới có được cái quang cảnh “trăm hoa đua nở”. Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.
Mà nếu cứ thế nầy mãi, than ôi, cái ngày ấy cũng chẳng xa đâu!
Cái tác phong lãnh đạo ấy hiện đã truyền nhiễm khắp Hà Nội rồi. Một tòa soạn nào đó cũng có quyền chữa bài của tôi, vứt bài của tôi. Mà phải chi đáng chữa mà chữa, đáng vứt mà vứt cho cam. Mới đây, trước ngày 20 tháng 7, có một nhà báo – giấu làm gì? Nói ngay là nhà báo Tổ quốc – nhà báo Tổ quốc viết thư cậy tôi viết một bài. “Viết một bài về chuyện miền Nam”, như thế là đã “ra đề” cho tôi “làm bài” đó, tưởng cũng đủ lắm rồi. Trong thư, ông đại chủ bút còn “dàn bài” cho tôi nữa: những là “yêu cầu” thế này, “mục đích” thế nọ, và hạn từ một ngàn rưởi chữ đến hai ngàn chữ. Tôi lấy làm đau xót quá (có lẽ đó vì tôi tự ái, đáng kiểm thảo), bèn kiếm cách từ chối. Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu! Ở thời cụ, cụ đã kêu:
Ở đây nào phải trường thi
Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng?
thế mà đến ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn gì được nữa cụ ơi! Tôi còn là tôi đâu được nữa cụ ơi!

II. Về vụ Giai phẩm mùa Xuân

Lãnh đạo như thế cho nên mới có tập Giai phẩm mùa Xuân. Nói cho tiêu tội, mấy người viết Giai phẩm mùa Xuân, họ vốn không hề cho tôi biết gì cả, nhưng khi tôi đọc thì tôi – có lẽ như tục ngữ nói: voi thuộc voi, ngựa thuộc ngựa, tôi biết ngay là vì họ bất bình với lãnh đạo
Sáng hôm mùng Một Tết âm lịch năm nay, ông Tố Hữu đến chơi trụ sở Hội Văn nghệ. Giữa anh em đông, ông hỏi ý kiến tôi về tập Giai phẩm mùa Xuân. Tôi nói trong đó chỉ có bài thơ của Trần Dần nói lôi thôi, có hơi không lợi; còn của Phùng Quán, của Lê Đạt, tôi thấy nói đúng đấy. “Chống công thức”, “quét rác rưởi tư tưởng” là việc chúng ta cần phải làm. Có điều cái gì là công thức, cái gì là tư tưởng rác rưởi, chẳng những nên bảo họ nói rõ ra, mà còn nên bảo họ viết lên báo cho rõ ra. Ông Tố Hữu nói một câu có đông anh em cùng nghe: “Giấy mực đâu mà phí để cho họ viết?”. Thế rồi làm thinh. Tôi làm thinh, nghĩa là tôi trải đời nhiều rồi, tôi tròn lắm rồi, tôi không dại dột đến nỗi đã thế rồi mà còn cứ nói nữa.
Mấy hôm sau, nghe nói tập sách mỏng ấy bị thu về, tôi cho rằng sự thu về ấy là thất sách. Sao lại phải làm to chuyện cái chuyện không đáng làm to? Sao lại gợi cho những kẻ hiếu kỳ lén lút tìm mua tập sách ấy 3000đ một tập mà đọc? Sao lại làm như là sợ nó? Ở Trung Quốc, Hồ Phong nói xấu lãnh đạo văn nghệ đến thế, mà “ba sắp tài liệu” của Hồ Phong vẫn được công bố ra, cả đến cái ý kiến thư của hắn cũng được công bố ra, chẳng ai hề sợ.
Thế rồi một ngày xuân mới, ánh mặt trời ấm áp, tối lại, có mấy hạt mưa phùn để giúp cho những cây rụng lá mùa đông nứt lộc ra, thì ở trụ sở Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tối đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà ký thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi tội độc một Trần Dần thôi, là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai phẩm, cái ngón ấy đã thành công. Hết thảy có độ một trăm rưởi người, trong đó có vài chục người đứng lên nói, đại khái giống nhau và kết luận là Trần Dần có tội. Không phải không có những người thấy rằng Trần Dần dù có tội cũng không đến to như thế, nhưng mà họ đã làm thinh.
Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ “Người” viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ Chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ “Người” không phải để xưng Hồ Chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như mình ở trong chiêm bao: chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài, thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình ngồi trong phòng họp Hội Văn Nghệ.
Rồi đến ông Hoài Thanh viết một bài trên báo Văn nghệ, bằng giấy trắng mực đen, ghép Trần Dần vào tội phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta [2] .
Thật cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá. Hồ Phong bên Trung Quốc, còn phải điều tra bao nhiêu năm, công bố “ba sắp tài liệu”, mới vạch mặt hắn là phản cách mạng, là tay sai của Tưởng Giới Thạch được. Tôi lại còn thấy một cái tài liệu, nói Hồ Phong từng bị bắt quả tang có một thanh gươm, ở cái nạm có bốn chữ “Tưởng Trung Chánh tặng”, ở cái lưỡi có ba chữ “đảng nhân hồn”. Như thế thì phản động là đáng lắm, có đâu chỉ một bài thơ mà đã là phản động?
Tuy vậy, Trần Dần còn có phúc hơn cậu cử Nguyễn Thuyên con trai cụ lớn Tiền quân Nguyễn Văn Thành nhiều lắm. Trần Dần với bài thơ hàng hơn năm trăm câu mà chỉ mang tiếng là phản động thôi, không như cậu cử Thuyên, bài thơ chỉ có 56 chữ, ý tứ vu vơ, mà bị chết chém, và còn liên lụy đến anh em, bè bạn, liên lụy đến ông cụ bố phải uống thuộc độc mà chết. Trong chỗ đó, tôi thấy thời đại dân cộng hòa dân chủ rộng rãi đối với văn nghệ hơn thời đại chuyên chế triều Gia Long rất nhiều.
Cuối cùng, ông Nguyễn Đình Thi, thư ký tòa soạn báo Văn nghệ viết liên tiếp ba bài đại cà sa phê bình tập Giai phẩm mùa Xuân. Sau khi ba số báo in ra xong, ông Thi đưa cả cho tôi xem và hỏi ý kiến tôi đối với ba bài ấy.
Đọc xong sau một hôm, hai chúng tôi nói chuyện với nhau. Tôi bảo ông Thi rằng ông đặt sai vấn đề. Vấn đề Giai phẩm là vấn đề lãnh đạo, chứ không phải vấn đề quần chúng. Tôi phân tích rõ ràng cho ông thấy rằng tại lãnh đạo văn nghệ có thế nào cho nên quần chúng văn nghệ mới bất bình mà phát biểu ra như thế. Ví dầu trong sự phát triển của họ có lầm lỗi cũng còn là cái ngọn, mà cái gốc, phải tìm đến ở chỗ do lãnh đạo gây ra. Thế mà cả ba bài của ông Thi không có một chữ nào đụng đến lãnh đạo hết, chỉ đổ lỗi cho mấy người viết trong Giai phẩm, thế là không công bình, thế là quá đáng. Khi viết đây, tôi ngồi dưới ngọn đèn điện 20 nến, tôi nói có mặt đèn làm chứng, ông Thi nhận cho lời tôi nói là đúng, hứa sẽ viết phê bình lãnh đạo, nhưng mãi tới nay chưa thấy viết.
Đọc trong bài thứ nhất của ông Nguyễn Đình Thi, đến chỗ ông nói mấy người trong Giai phẩm là “cả vú lấp miệng em”, làm tôi nhớ lại một vài chuyện cũ mà tủm tỉm cười một mình. Năm 1920, tôi làm thư ký kiêm kế toán cho công ty Bạch Thái ở Hải phòng, tôi thấy ông Bạch Thái Bưởi bóc lột công nhân làm tàu của ông rõ ràng, thế mà một hôm ông chỉ vào mặt các anh làm tàu mà nói rằng: “Chính chúng mầy bóc lột tao”; năm 1930 hay 1931 gì đó, tôi viết báo ở Sài Gòn, biết thực dân Pháp khủng bố cộng sản dã man hết sức, thế mà trên báo Tây, chúng gọi Xô viết Nghệ An là “khủng bố đỏ” (terreur rouge). Nghề thế, hễ mình muốn người khác đừng nói đến cái tật xấu của mình, thì mình đem ngay cái tật xấu ấy đổ trên đầu người khác để đấm họng họ cho câm đi. Chính ông Nguyễn Đình Thi “cả vú lấp miệng em” cho nên ông bảo trước rằng bọn Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt là “cả vú lấp miệng em”. Thực ra thì bọn nầy có “vú” đâu mà “cả”, vả lại họ cũng không có ai là “em” họ hết.
Một tối họp buộc tội, không có một lời nào cãi lẽ; bốn bài báo buộc tội, không có một chữ nào trả lời: quả nhiên “miệng” đã bị “vú lấp” rồi. Đó là cái cơ hội cho một việc gì xảy ra.

III. Về vụ giải thưởng văn học 1954-1955

Sau khi giải thưởng nầy tuyên bố, ở đâu thì không biết, chứ ở Hà Nội, dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải. Nói như thế, có thể bị coi là nói vu vơ, không có bằng chứng. Nhưng muốn có bằng chứng cũng không thể có được, vì cả nước chỉ có một tờ báo Văn nghệ có thể đăng những bài phê bình văn nghệ, mà là của Hội Văn nghệ, thứ dư luận ấy có muốn phát biểu cũng không phát biểu vào đâu. Tuy vậy, bằng chứng cũng không phải toàn không có. Dạo trước, tờ Trăm hoa có ba bài của ba người công kích tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu, nhưng khốn nỗi, nó ra đến bài thứ ba thì nó chết. Dù vậy, tôi thấy dư luận ấy là quả có, chẳng tin, ai thử làm một cuộc trưng cầu ý kiến mà xem.
Chính tôi là một người ở trong Ban Chung khảo chấm giải, tôi đã biểu tình với thứ dư luận ấy trước khi nó xôn xao, nghĩa là trước khi tuyên bố kết quả giải thưởng.
Ban Chung khảo có mười người, tôi là một. Tôi quên lửng, không biết do ai công cử hay chỉ định, khi nhận được giấy triệu tập thì cứ di dự vào, làm việc, lãnh tiền thù lao, nhưng khi việc xong thì tôi đâm ra trách mình một cách bâng quơ: phải chi mình đừng dự vào đó thì hay.
Tác phẩm của mỗi ngành trong văn học, như thơ, tiểu thuyết, kịch bản… sau khi chuyền cho nhau đọc rồi, về mỗi ngành có một buổi họp toàn ban để bình định thứ bậc. Trong khi bình định, hễ đồng ý với nhau thì thôi, bằng có mâu thuẫn thì biểu quyết bằng lối giơ tay, “thiểu số phục tùng đa số”.
Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu? Nhưng cả ban làm thinh, tự hồ ai cũng hiểu những câu ấy, không ai tỏ đồng ý với sự chỉ trích của tôi. Tôi còn cử ra những câu tầm thường quá, không xứng đáng là thơ, và nói rằng thơ Xuân Diệu ngày nay trở kém thơ Xuân Diệu ngày trước. Một ông trong ban (quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Ðảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao? May mà một ông khác (quên là ai) lập tức đưa tay ngăn cản lại, nói đó không phải là cái luận cứ vững, đừng đưa ra. Nhưng đồng thời tôi trót đã vọt miệng thốt ra câu này: Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng, chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu, thật như đức Khổng tử đã dạy rằng: “Ngựa tứ chẳng kịp lưỡi”. Cũng vì tôi nên có sự mâu thuẫn, phải biểu quyết, thì tôi đứng về thiểu số, mà nhớ hình như thiểu số tuyệt đối.
Hôm khác bình định về tiểu thuyết. Tôi phản đối Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng đứng giải nhì. Tôi cử ra sáu bảy chỗ, kết luận rằng cái tiểu thuyết này nhiều chỗ không giống với sự thực, trái với chủ nghĩa hiện thực bước thứ nhất, nếu nó được giải cao thì khi ngoại quốc dịch nó ra, nhất là khi bên địch đọc nó, bất lợi cho văn học của chúng ta. Cả ban không ai bác lại lời tôi, tuyệt nhiên không có một người nào bác lại tôi, nhưng thế nào không biết, cuối cùng cũng phải biểu quyết, và tôi vẫn đứng về thiểu số, và lại là thiểu số tuyệt đối.
Đến khi việc đã xong rồi, Ban Chung Khảo không còn có buổi họp nào nữa rồi, tôi mới tiếp được hai tác phẩm về ký sự, đều đứng giải ba, có thông tri bảo đọc và cho ý kiến. Tôi thấy cái Nam bộ mến yêu của Hoài Thanh chỉ là bài viết chạy như bài đăng trên báo, không có gì là giá trị văn học, còn cái Lên công trường của Hồng Hà viết có công phu hơn. Tôi nhớ ra mình đã từng hạ hai tác phẩm của hai ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng xuống mà không được, bây giờ không còn có đủ sức bướng để mà hạ của ông Hoài Thanh xuống nữa, bèn viết một mẩu giấy đề nghị đưa Lên công trường lên giải nhì. Nhưng mẩu giấy ấy về sau chìm đi đâu mất, không ai nhắc đến.
Sau có một buổi họp giữa những người chấm giải với những người được giải. Đáng lẽ, một buổi họp như thế, thế nào Ban chấm giải cũng phải gợi cho những người được giải có thắc mắc gì thì nói ra. Bởi vì bây giờ không phải như thời phong kiến chấm trường thi, quan trường ăn tiền lấy đỗ bậy bạ rồi ai rớt nấy chịu. Nhưng mà không thấy đả động gì đến việc ấy. Gần rốt buổi họp tôi mới đề nghị xin cho nói thắc mắc. Thế rồi có mấy người nói thắc mắc của họ [3] . Cuối cùng tôi cũng đưa ra thắc mắc của tôi về cái sự hai lần bị đứng về thiểu số như đã nói trên. Tôi nói quả quyết rằng mặc dầu tôi đứng về thiểu số, chứ cái sự định đoạt ấy của đa số, tôi cho là không đúng, tôi nhất định không phục. Trong những người được giải, có một người đứng lên phát biểu ý kiến, lấy làm lạ rằng sao trong Ban Chung khảo không nhất trí với nhau, xong việc rồi lại còn có người đưa ra thắc mắc? Tan buổi họp, tôi nghĩ mà cũng lấy làm lạ rằng sao cái ông lấy làm lạ đó lại không ở trong Ban Chung khảo?
Đến hôm phát giải thưởng ở Câu lạc bộ Đoàn kết, ban tổ chức đề nghị tôi làm một người trao giải. Tôi từ chối. Tôi sợ rằng trong khi trao giải hoặc rủi mà tôi gặp phải trao ba cái giải mà mình phản đối thì khổ cho mình. Khi tuyên bố ba cái giải mà tôi phản đối ấy tôi nhất định không vỗ tay. Tôi nhất định tỏ thái độ phản đối đến cùng.
Hôm thượng tuần tháng 6, tôi nằm trong Bệnh viện C, thấy mấy anh bộ đội đọc tập thơ Người chiến sĩ của Hồ Khải Ðại mà chê rằng dở quá, tôi bèn mượn xem thì thấy quả thật là dở quá. Thế mà nó được giải ba văn học. Tập thơ nầy, tôi ở trong Ban Chung khảo chưa hề thấy mặt nó, sau cùng chỉ nhận được thông tri nói nó nguyên ở giải khuyến khích, nay tương lên giải ba. Ai tương lên? Thế có lạ không?
Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào. Lâu mà không thấy mấy người viết. Tình cờ tôi hỏi một ông, ông trả lời: “Khó viết quá”. Câu trả lời đúng hết sức: lấy nó trúng giải thì dễ, chứ viết để tuyên truyền cổ động cho nó thì phải khó.
Cho đến hết tháng bảy mà chỉ có hai bài phê bình trên báo Văn nghệ. Một bài ông Hoàng Xuân Nhị (một trong Ban Chung khảo) phê bình Truyện anh Lục, độc giả không lấy làm mãn nguyện, có người đã nói, đọc nó chỉ thấy cái vẻ mô phạm hiền lành của một vị giáo sư đại học mà thôi. Một bài ông Hoài Thanh viết để binh vực cho Ngôi sao mà binh vực một cách gắng gượng quá, nhất là yếu, không hề chống cãi lại những chỗ đả kích trong ba bài của báo Trăm hoa. Tôi rất không phục ông Hoài Thanh ở điểm này: ông viết bài ấy sau ba bài của Trăm hoa mà ông không hề nhắc tới Trăm hoa lấy một tiếng, ông cố dìm nó xuống cũng như Phạm Quỳnh đã dìm báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế. Nếu không dìm thì là ông khinh, cũng như Phạm Quỳnh đã khinh báo Hữu Thanh của Ngô Đức Kế.
Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy vẫn có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.
Người ta cứ sợ “bên địch xuyên tạc”. Sao trong việc nầy không sợ? Nó cần gì phải xuyên tạc? Đọc mấy tác phẩm được giải thưởng nầy, tha hồ cho nó đánh giá văn học miền Bắc.
Gọi là phê bình, chỉ có thế; tôi chỉ trình bày mấy hiện tượng không tốt trong giới văn nghệ. Còn sửa chữa, mong ở Đại hội sắp tới, nếu toàn thể xét thấy lời tôi nói có đúng phần nào thì xin tùy đó mà sửa chữa.
Riêng tôi thì tôi chỉ muốn Hội chúng ta, trong việc lãnh đạo, thực hành cái nguyên tắc dân chủ tập trung, mà phải từ dưới lên trên rồi mới từ trên xuống dưới, nghĩa là theo ý kiến nguyện vọng của quần chúng văn nghệ để lãnh đạo văn nghệ. Đừng như hai năm nay, lấy ý kiến của ba năm ba người trong Ban Thường vụ, hoặc của một người nọ hay một người kia để lãnh đạo, mà cái ý kiến ấy số đông văn nghệ sĩ không tán thành.
Được như thế thì sẽ không còn có cái hiện tượng hai bên đối lập nữa. Đó là một điểm trọng yếu trong chương trình phát triển văn hóa để củng cố miền Bắc.

(Viết xong ngày 30-7-1956 tại Hà Nội).

Trích trong Giai phẩm mùa thu, tháng 8 năm 1956.

Chú thích cho bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ: [1]Các vua triều Nguyễn gốc ở làng Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa. [2]Báo Văn nghệ số 110 ra ngày 17-3-56 [3]Nhớ như có người đã thắc mắc về tập thơ Ngôi sao, nhưng tôi không chắc lắm, việc này có thể xét lại biên bản của Hội Văn nghệ về buổi họp ấy – Ngày 20-8-56, thình lình có cuộc họp Ban Chấm giải, tôi phát hiện thêm ra một sự gian lận: Bao nhiêu lời phản đối của tôi về tập Ngôi sao đều bị bỏ hết, không ghi vào biên bản. Việc nầy, liền ngày đó, tôi có viết thư cho ông Tổng thư ký Đảng Lao Động biết. (Phan Khôi chua thêm ngày 21-6 trước khi tập sách lên khuôn).

(3) Phạm Quỳnh (1892 – 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân. Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.

___________________________________________

Sài gòn, tháng 12-2010

QUẢNG NAM CÓ VĂN HỌC, VĂN CHƯƠNG TỰ BAO GIỜ

GS Nguyễn Văn Xuân

Câu hỏi đó rất khó trả lời.

Vì người Quảng Nam thật sự xuất hiện và được biết tới là vào những thời Trần, Hồ, Lê, Mạc trong hai vùng Điện Bàn và Thăng Hoa (tên hai phủ của Quảng Nam xưa). Tên Quảng Nam chỉ xuất hiện để chỉ một xứ: xứ Quảng Nam bao gồm từ Thăng Hoa đến vùng nay là Bình Định – Điện Bàn thuộc về xứ Thuận Hoá (nay là Thừa Thiên Huế) bên kia Hải Vân.

Cho đến thời Nguyễn Hoàng mới rút Điện Bàn ra khỏi Thuận Hoá để thành Thăng – Điện. Sau 1802, khi lập tỉnh mới gộp hai phủ ấy lại thành tỉnh Quảng Nam.

Khi còn là Thăng, Điện, ở đây sự học chưa thực sự mở mang và những chức vụ lớn đều ở trong tay người Đàng Ngoài. Tuy vậy, theo các sách do người Pháp viết để lại, bấy giờ đã có diễn tuồng. Mà muốn diễn phải có tuồng bản. Sự thật văn tuồng có thể được xem là văn học cổ nhất, nhưng không thấy lưu lại bản nào. Còn văn học dân gian thì chắc đã có từ lâu, nào hò, nào vè, hò khoan, ca dao, tục ngữ. Ví dụ những câu sau đây cho biết tình trạng Hội An khi còn nghèo:

Hội An bán gánh, bán lều
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành.

Cho tới khi Hội An giàu có thịnh vượng:

Hội An bán gấm, bán điều
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành.

Kim Bồng là vùng cách Hội An một con sông. Vùng ấy về sau chuyên về xây dựng và nghề mộc khá tinh xảo. Còn Trà Nhiêu là một đầm rộng lớn để tàu thuyền ngoại quốc vào đậu. Cửa Đà Nẵng chỉ dành cho các tàu thuyền lớn có tính cách tiền cảng. Vào thời xa xưa, chưa có tàu thuyền lớn thì chắc chắn Hội An giữ vai trò chuyên biệt thương mại của Hội An.

Sự lớn mạnh của thương mại và xuất nhập của tỉnh Quảng Nam (chứ không còn là xứ Quảng Nam) bắt đầu từ triều Nguyễn.

Biết bao giờ trả cho hết nợ Cao Hoàng.
Đào sông Cao Nhí, đắp đàng Bông Miêu.

Câu ca dao nói lên thực tế xa xưa đó. Dưới thời Minh Mạng, đào sông Vĩnh Điện, sông này mở khẩu từ làng Câu Nhí nên cũng mang tên ấy và rất thuận lợi tiếp nối với sông Hàn, biến nơi này thành nơi tụ hội một hải đội chuyên xuất khẩu.

Từ Hội An ra cửa Hàn, sao bạn lại không lên đường đi chơi đèo Hải Vân và Hải Vân Quan. Tôi thấy mấy ông nhà văn, nhà thơ ngày trước như Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Lưu Trọng Lư… thỉnh thoảng vào Quảng Nam, lại rủ nhau lên đỉnh đèo uống rượu trước trời cao, biển rộng và mây trắng bay sau các lùm cây. Các tiệc rượu như thế thanh tao và thanh cao biết bao nhiêu. Các du khách còn được xem lại cửa ải xưa, nơi lập ra để ngăn chặn quân địch đổ bộ vào Đà Nẵng để kéo quân ra Huế đánh kinh đô.

Cũng tại con đèo núi tiếp núi này, nơi:

Chiều chiều ra đứng Hải Vân
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân lại buồn.

Chắc đây là tiếng than thở của dân làng bị định cư tại lưng đèo để bảo vệ đèo hoặc của một phụ nữ nào đó sống trong quạnh quẽ, cô đơn. Tuy vậy, vào ngày nắng sáng mùa hè, chính mắt tôi đã từng trông thấy những lẵng hoa vĩ đại rực rỡ chói chang. Đó là một loại hoa màu mát dịu như hoa rau muống nhưng lớn hơn, trải khắp hết cụm núi này sang cụm núi nọ, dưới chân lại có loại hoa vàng đậm như để đan viền cho những tấm thảm khổng lồ, bất tận kia.

Tôi mời bạn đến với Ngũ Hành Sơn. Thời xa xưa, trước Minh Mạng có tên cúng cơm Non Nước trải qua nhiều thế kỷ. Cuối thế kỷ XVII, chúa Hiển Tông Nguyễn Phước Chu (1691 – 1725) có mời một đại sư Trung Quốc sang xứ Đàng Trong. Nhà sư đến Non Nước chơi và khi trở về có viết tập Hải ngoại ký sự – Viện đại học Huế ấn hành bản dịch năm 1963. Ông khen cảnh đẹp, cảm hứng làm nhiều bài thơ ca tụng Tam Thai (tức Non Nước). Ông cũng trách thi nhân ta đã không biết thưởng thức cảnh đẹp, không dùng đề tài ấy để ngâm vịnh.

Khi tôi lớn lên, không cần ông động viên (vì sách của ông chưa ai biết) thấy các sườn núi đã đầy ngập những thơ Hán, Nôm, dở hay, làng nhàng cũng đều có, thường dân, danh sĩ cũng có. Những người Quảng Nam thường thích đọc hai bài (không rõ có đục vào sườn núi hay không) của bà Bang Nhãn và ông Thái Duy Thanh.

Bài của bà Bang Nhãn có khẩu chí chân tình:

Núi chen sắc đá màu phơi gấm
Chùa nực hơi hương khói lộn mây

Bài của Thái Duy Thanh độc đáo:…

Ngó lại, ngó qua năm đống đá
Tu lên, tu xuống mấy ông thầy
Lên đài Vọng Hải trông xa tít;
Vào động Huyền Không ngó trống quầy
Lếu láo ngâm đưa đôi chén rượu,
Cõi trần khi cũng có tiên đây.

Ngũ Hành Sơn là cái tên mới đặt thời vua Minh Mạng. Đó là nơi vua Minh Mạng, Thành Thái đến xây dựng hoặc vãn cảnh. Lại có một bà công chúa đến tu. Đây là nơi người Quảng Nam rất tôn trọng, xem như “Địa linh nhân kiệt”, nơi tạo ra những nhân tài xuất chúng. Học trò thời trước thường đến vãn cảnh và trước khi ra Huế thi Hương, thi Hội vẫn có mặt ở đây để xin được phù trì. Những cảnh đẹp nào Huyền Không động, động Chiêm Thành, nào Vọng Hải Đài, Vọng Giang Đài, nào các chùa danh tiếng, nào những bậc cấp khéo xây, huyền thoại ly kỳ về con rắn biển đã tạo nên cửa Đà Nẵng, sông Hàn rồi đẻ trứng tại đây hoá thành núi… Một thi nhân cũ tặng cho Ngũ Hành Sơn một câu thơ đầy ý nghĩa “Núi thấp hơn hết mà danh cao hơn hết” (dịch).

Bạn đã biết các khu vực nổi tiếng qua ca dao. Nhưng thiếu sót biết bao nếu không ngược dòng Thu Bồn, viếng xem những cảnh trí khác cũng rất nổi tiếng thời xưa – chúng ta có thể từ Hội An ngược lên. Bạn sẽ thấy, trước hết cùng nước bao la xa đổ về biển. Ấy là vùng Trà Nhiêu. Cũng tại cái đầm vĩ đại mà chắc chắn thời Chiêm Thành lập kinh đô tại đây, nó cũng đóng vai trò Chiêm cảng. Ngược sông Thu Bồn đến cầu Câu Lâu, nhìn qua hướng bên phải là một dải đất rộng, nơi có những làng Phú Chiêm, Thanh Chiêm vốn rút từ Chiêm của Chiêm động ra.

Lại ngược sông nữa, bạn sẽ gặp một vùng gọi là Gò Nổi. Đây là vùng trù phú nổi tiếng về dệt các mặt hàng vải, tơ lụa. Cũng vì có tơ lụa nên có những ruộng dâu xanh ngắt. Các cô con gái làm nghề tằm tang quen ở trong bóng mát nên có tiếng xinh đẹp nhất.

Cũng vì có dâu xanh lúa tốt, nên Gò Nổi sản xuất biết bao danh nhân lững lẫy trong học vấn, trong chính trị – từ Hoàng Diệu đến Phạm Phú Thứ, từ Trần Cao Vân đến Phan Thành Tài. Riêng một họ Phan, về lớp sau cũng sản sinh những Phan Khôi, Phan Thanh… thú vị hơn nữa là những cô gái Bảo An xinh đẹp một thời.

Lại ngược dòng nữa, trải qua những di tích cũ-mới, ở đây có lễ hội hằng năm ở miếu thờ bà Thu Bồn – và các địa danh nổi tiếng.

Rồi bạn đến nơi có ca dao ai cũng biết:

Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!

Từ nguồn xa xôi, nước đổ về đây rồi dừng lại, chậm lại ở Hòn Kẽm, hai bên có đá dựng. Nước tạo nên một dải giống hệt một cái hồ tuyệt đẹp gợi cho chúng ta cảm tưởng “Non bồng, nước Nhược” cực kỳ êm ả. Nếu có một con thuyền nhỏ, bạn cùng người yêu đưa nhau đi trên hồ thiên tạo này, bạn sẽ cảm thấy thế giới “Kinh tế thị trường” dưới kia sao mà ồn ào, trần tục đến thế. Ở đây có bãi cát đẹp, bạn có thể đóng trại một hai hôm để thưởng thức tinh tuý tươi mát trong lành của trời đất.

Nói đến cảnh đẹp Quảng Nam mà quên “Hòn Kẽm Đá Dừng” cũng như quên “Mỹ Sơn thánh địa” của Chiêm Thành thì phải nói là chưa đủ đấy! Nhất là quần Tháp và các di vật lưu lại ở vùng thung lũng dưới sự chứng kiến đời đời của ngọn núi Quắp độc đáo mang tính thiêng liêng khó hiểu. Có đến Mỹ Sơn bạn mới có sự thông cảm sâu sắc hơn với cổ viện Chàm tại Đà Nẵng, một cổ viện không đồ sộ nhưng danh tiếng lớn. Một thi sĩ xưa vịnh câu này và Huỳnh Thúc Kháng coi là tuyệt hay “Núi thấp nhất nhưng danh vọng cao nhất” như đã nói, ta cũng có thể gán câu đó cho cổ viện Chàm.

Nói đến Quảng Nam, người ta hay nhắc chuyện học. Người Quảng Nam cũng tự tin, tự hào về mặt này.

Họ lại cũng hay nhắc về “Ngũ phụng tề phi”. Tôi nhớ trước kia, các sinh viên Quảng Nam có đề nghị tôi phát biểu về sự kiện này. Tôi cũng cho đó là điều đáng quan tâm qua những kỳ thi Hội, thi Đình ở một vài tỉnh. Ba tiến sĩ, hai phó bảng cùng đỗ một khoa thi thì cũng đúng là “năm con phượng cùng bay”. Nhưng trong việc học, bằng cấp cao đến đâu cũng chỉ đánh dấu sự khởi đầu… Điều quan trọng nhất của việc học hành, chính là đậu để làm gì? Để lập sự nghiệp. Năm nhà đại khoa đó có sự nghiệp chính trị, văn hoá, học thuật nào? Tôi không thấy. Vậy ta nên coi đó là giai thoại giúp cho các bạn trẻ phấn chấn hơn trong việc học hành. Học giỏi, đậu cao, phụng sự đất nước, có sự nghiệp xứng đáng, lưu danh là điều đáng quý, đáng trân trọng, noi gương. Song đã có “Lục phụng bất tề phi”. Phạm Phú Thứ (tiến sĩ), Phan Châu Trinh, Nguyễn Duy Hiệu (phó bảng), Trần Qúy Cáp, Huỳnh Thúc Kháng (tiến sĩ), Phạm Như Xương (Hoàng Giáp) và ngoại trừ Phạm Như Xương ít hiểu biết nên cho dù ông bỏ quan để theo Nghĩa hội Quảng Nam rồi sau đó là chỗ dựa bí mật và là cố vấn cho Quang Phục Hội (phong trào Đông Du của Tiểu La và Phan Bội Châu). Nếu nói học thì ông có học vị cao nhất khắp miền Nam, còn hành thì ông hành động như một đại trí thức.

“Lục phụng bất tề phi” mới thực sự nêu gương cho người Quảng Nam và Việt Nam để tuổi trẻ biết thế nào là học và hành”, bây giờ và cả trường kỳ lịch sử. Ví như Phạm Phú Thứ, đỗ song nguyên (cử nhân, tiến sĩ đầu) khi sang Pháp chuộc ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, đã chuyên tâm viết bộ Du ký lừng lẫy (Tây hành nhật ký) đến nay còn giá trị đối với lịch sử trong nước và thế giới. Vậy mà lúc về, không quên mang theo về cái xe đạp nước kéo bằng trâu theo kiểu mẫu Ai Cập, gọi là xe trâu. Phan Châu Trinh khi ở Côn Đảo là tay câu cá giỏi, sang Pháp là “xếp” một câu lạc bộ câu cá và kiếm sống bằng nghề thợ ảnh đồng thời là tác giả bao nhiêu bộ sách chính trị vang động giới chính trị Pari (Việt và Pháp). Trần Quý Cáp chuyên nghề bút canh (Cày ruộng bằng bút) là thầy đồ tiếng tăm, cả các tỉnh Nam ra học và nhờ đó ông mới hướng đạo được cuộc Nam du của ba chí sĩ (Phan, Huỳnh và Trần) đã là bậc giáo thọ tử vì đạo. Ông Nguyễn Ái Quốc trong Bản án chế độ thực dân Pháp đã đề cao “Ông nghè Trần Quý Cáp, một nhà nho thanh cao ai cũng kính phục”. Ông là nhà hùng văn và hùng biện. Huỳnh Thúc Kháng (cũng song nguyên) là người học trò nức tiếng thuở trẻ. Khi đi tù Côn Đảo, ông học làm đồi mồi và quản lý sở buôn. Ông trở về đất liền trên tay có bộ từ điển Pháp Việt mà người ta bảo ông học thuộc lòng từ đầu chí cuối. Với nghề đồi mồi, ông đã thực hành và đưa các mặt hàng mỹ nghệ nữ trang đi chào để xuất khẩu sang Pháp và sau này, ông tự đứng làm quản lý cho công ty Huỳnh Thúc Kháng (nhà in và báo Tiếng Dân). Cũng cần nhắc thêm 1905, ba nhà đại khoa này đã giúp Phan Thiết lập công ty nước mắm Liên Thành đầu tiên. Học như thế mới gọi là học, và nêu cái gương học vấn cho dân, cho nước. Lục phụng này mới thật là phụng hoàng không thẹn cùng nhật nguyệt.

Còn không học đúng ra là không có bằng cấp thì cũng có nhiều tay cự phách: Tiểu La, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Phan Khôi…

“Đất Quảng quê tôi” còn nhiều điều để nói, với tính đặc thù của nó, hầu góp phần vào kho tàng văn hoá nước nhà, đang đi lên trong sự nghiệp đổi mới.

GS Nguyễn Văn Xuân

NHÀ HÀNG LY HÔN

Lắm khi con người thật lạ, chỉ đến khi hạnh phúc mất đi rồi mới chợt nhận ra mình đã từng thật hạnh phúc, muốn níu giữ lại nhưng… mọi sự cũng đã muộn màng.
Tuy vậy, “hạnh phúc và tình yêu” là thứ vô hình nhưng lại tồn tại mãi với thời gian, nếu con tim ta vẫn còn yêu thương, còn nhung nhớ… thì cảm xúc ấy sẽ trở về.

Anh cưới chị được 10 năm. Giữa hai vợ chồng không còn xúc cảm và hứng thú. Anh ngày càng cảm thấy đối với vợ hầu như chỉ còn là trình tự và nghĩa vụ. Anh bắt đầu thấy ngán chị. Nhất là khi company vừa nhận về một người phụ nữ trẻ hết sức sôi nổi và cuồng nhiệt bám lấy anh.
Anh chợt có cảm giác cô ta là mùa xuân thứ hai của anh. Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh quyết định ly dị vợ. Chị dường như đã trơ lỳ, bình thản, đồng ý đòi hỏi của anh.
Thủ tục tiến hành rất thuận lợi. Sau khi ra khỏi cửa, anh chị đã trở thành cá nhân độc lập và tự do. Không hiểu sao, anh bỗng thấy trống trải vô cùng, anh nhìn chị nói: “Trời tối rồi, hay là đi ăn cơm đã.”
Chị nhìn anh nói: “Vâng. Em nghe nói gần đây vừa khai trương Nhà hàng Ly Hôn, chuyên phục vụ bữa ăn cuối cùng cho các cặp vợ chồng ly dị. Chúng mình đến đấy đi?”
Anh gật đầu. Hai người, một trước một sau lặng lẽ đi vào Nhà hàng Ly Hôn. Anh chị vừa yên vị trong phòng VIP, cô phục vụ đã bước vào nói: “Anh chị dùng gì ạ?”
Anh nhìn chị nói: “Em gọi đi.” Chị lắc đầu: “Em ít khi ăn nhà hàng, không quen gọi món, anh gọi đi.”
-“Xin lỗi, nhà hàng chúng tôi quy định, bữa này do vợ gọi món hàng ngày người chồng thích ăn nhất, và chồng gọi món người vợ thích ăn nhất. Đấy là món “Ký ức cuối cùng.”
“Thôi được”, chị hất món tóc xõa trước mặt ra sau, nói: “Gà luộc chấm gia vị nước chanh, đậu phụ rán chấm nước mắm nguyên chất rắc hành thái nhỏ, chân giò luộc chấm mắm tôm, rau cải thảo luộc.”
-“Anh gọi gì ạ?” Cô phục vụ nhìn anh. Anh sững người. Lấy nhau 10 năm, anh thật sự không biết vợ anh thích ăn món gì. Anh há hốc mồm, ngồi thừ ra đấy.

-Những món này đủ rồi, đều là món chúng tôi thích nhất.” Chị vội chữa thẹn cho anh.

Cô phục vụ cười: “Thực tình mà nói, đến nhà hàng chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng, các anh các chị đều không thể nuốt trôi. Hay là anh chị đừng dùng món “Ký ức cuối cùng” nữa, hãy dùng bữa tối nhà hàng đặc biệt làm cho vợ chồng ly hôn: Đồ uống ướp lạnh. Những người đến đây, không có ai từ chối sự lựa chọn này.” Anh chị gật đầu: “Được.”
Chốc lát, cô phục vụ mang đến hai suất đồ uống ướp lạnh. Trong hai suất có một suất xanh lơ, toàn đá đập vụn; một suất đỏ tươi, còn đang bốc khói. “Bữa tối này gọi là “một nửa ngọn lửa, một nửa nước biển”. Mời anh chị thưởng thức.” Cô phục vụ nói xong lui ra. Trong phòng ăn im lặng như tờ, anh chị ngồi đối diện, nhưng không biết nói gì với nhau.
-Cộc cộc cộc!” Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng. Cô phục vụ đi vào, tay bưng chiếc khay có một bông hồng đỏ tươi, nói: “Anh còn nhớ cảnh tặng hoa cho chị đây không? Bây giờ, khi mọi việc đã kết thúc, không còn là vợ chồng, nhưng là bạn. Bạn bè gặp nhau vui vẻ rồi chia tay, anh tặng chị bông hồng cuối cùng đi.”
Chị rùng mình, trước mắt hiện ra cảnh anh tặng hoa chị 10 năm về trước. Hồi đó, anh chị vừa đến thành phố xa lạ này, hai bàn tay trắng, bắt đầu xây tổ ấm từ số không. Ban ngày, anh chị đi tìm việc làm, ban đêm chị ra hè phố bán quần áo. Anh vào nhà hàng rửa bát. Nửa đêm mới về đến gian nhà thuê chưa đầy 10 mét vuông. Đời sống khổ cực, nhưng anh chị thấy vui, thấy hạnh phúc.
Tết Valentin đầu tiên ở thành phố này, anh mua tặng chị bông hồng đầu tiên, nước mắt chị chảy dài trên má vì sung sướng quá. 10 năm rồi, cuộc đời đã giàu lên, thế mà anh chị lại chia tay nhau. Càng nghĩ, chị càng tủi, hai mắt ngấn lệ, xua tay nói: “Thôi, thôi, khỏi cần.”
Anh cũng nhớ lại 10 năm qua. Và sực nhớ 5 năm nay, anh không mua hoa tặng chị. Anh vội vẫy tay, nói: “Không, phải tặng.”
Cô phục vụ cầm bông hồng lên, “xoèn xoẹt” một cái, bẻ làm đôi, ném vào cốc của anh chị, mỗi người một nửa. Bông hồng tức khắc hòa tan trong cốc.
-Đây là bông hồng nhà hàng làm bằng gạo nếp, cũng là món ăn thứ ba gửi anh chị. Mời anh chị thưởng thức. Còn cần gì nữa, anh chị cứ gọi tôi”. Nói xong, cô quay người ra khỏi phòng.
-Em… anh…” Anh nắm lấy tay chị, nói không nên lời. Chị rút mạnh bàn tay. Không rút nổi, bèn để yên. Anh chị im lặng nhìn nhau, vẫn không nói nên lời.
-Phụt!” Đèn điện tắt ngấm, trong phòng tối om. Bên ngoài vang lên tiếng chuông báo động đổ dồn, có mùi cháy khét lẹt bay vào.
-Chuyện gì thế?” Anh chị vội đứng lên.
-Nhà hàng cháy rồi, mọi người ra ngoài mau, mau lên!” Bên ngoài có người kêu thét lên.
-Anh!” Chị ép vào người anh, “em sợ!”
-Đừng sợ!” Anh ôm chặt lấy chị, “Em đừng sợ, có anh ở bên cạnh. Chúng mình chạy ra ngoài đi.”
Noài phòng, đèn điện sáng trưng, mọi vật như cũ, không có chuyện gì xảy ra. Cô phục vụ nói: “Xin lỗi anh chị, đây là món “Sự lựa chọn từ đáy lòng” của nhà hàng gửi tới anh chị.”
Anh chị trở về phòng ăn, ánh sáng chan hòa. Anh cầm tay chị nói: “Vừa nãy là sự lựa chọn từ đáy lòng của chúng mình thật. Anh cảm thấy chúng mình không thể sống thiếu nhau, ngày mai chúng mình đi đăng ký lại!”
Chị cắn môi: “Anh nói thật lòng đấy chứ?”
-Thật! Anh hiểu rồi.” Cô ơi, cho thanh toán.
Cô phục vụ đi vào, đưa cho anh chị mỗi người một tấm phiếu màu hồng rất đẹp nói: “Đây là phiếu thanh toán của anh chị, cũng là món quà của nhà hàng gửi tặng anh chị, gọi là “Phiếu thanh toán vĩnh viễn”, mong anh chị cất giữ mãi mãi.”
Anh nhìn phiếu, mắt đỏ hoe. “Anh làm sao thế?” Chị lo lắng hỏi. Anh đưa phiếu thanh toán của mình cho chị, nói: “Anh có lỗi với em, mong em tha thứ.”
Chị cầm tấm phiếu đọc: “Một gia đình ấm cúng, hai bàn tay làm lụng, ba canh ngồi chờ anh về, bốn mùa dặn anh giữ gìn sức khỏe, năm tháng săn sóc anh chí tình, sáu mươi mẹ già vui vẻ, bảy ngày trong tuần nuôi dạy con cái, tám phương giữ gìn uy tín của anh, chín giờ thường xuống bếp làm món anh khoái khẩu, mười năm hao tổn tuổi xuân. Vì ai… Đó là vợ anh”.
– “Anh vất vả thật đấy. Mấy năm qua em thờ ơ với anh quá.”
Chị đưa phiếu thanh toán của mình cho anh xem. Anh mở ra đọc: “Một mình gánh vác trách nhiệm, hai vai nặng trĩu cơ đồ, ba canh cặm cụi bên bàn, tứ thời chạy ngược chạy xuôi, vinh nhục biết chia sẻ cùng ai, bể dâu khắc sâu đuôi mắt, nghĩa vụ đối với gia tộc, gập ghềnh chông gai con đường công danh, là người phàm tục làm sao mười phân vẹn mười. Lúc nào cũng tận tình với vợ con… Đấy là chồng em”.
Anh chị ôm chầm lấy nhau, oà lên khóc thành tiếng.

ĐÀ NẴNG CỦA TÔI

 
Phan Xuân Sinh

Từ lâu tôi chờ đợi một người nào đó viết về quê tôi, như Phan Nhự Thức viết về Quảng Ngãi, Nguyễn xuân Hoàng viết về Nha Trang, Trần Doãn Nho viết về Huế. Thế nhưng chẳng có ai làm điều nầy giùm tôi, hoặc có người viết rồi mà tôi chưa được đọc, thôi thì bây giờ tôi viết về Ðà Nẵng của tôi vậy. Thật tình thì Ðà nẵng cũng không có nhiều danh lam thắng cảnh, cũng ít nơi thơ mộng. Người dân chúng tôi nòi văn chương chữ nghĩa cũng ít, nhưng nói “ móc họng” thì nhiều. Danh nhân thì đếm trên đầu ngón tay các ông Thái Phiên, Aùn Nại…mà những người chính tông Ðà Nẵng cũng ít người biết. Còn ông Phan Châu Trinh, Trần Quý cáp, Nguyễn Duy Hiệu v.v.. tiểu sử các ông ai ai cũng biết.Thường thì Ðà Nẵng-Quảng Nam là một, nó dính liền với nhau cùng một thân một gốc, từ phong tục, tập quán, văn hóa, xã hội và nhất là “cãi lộn” cũng đều y chang như nhau. Trong thời kỳ Pháp thuộc họ chia anh em chúng tôi ra làm hai cho dễ cai trị, nhưng chỉ mỗi một việc là hành chánh còn tất cả chỉ là một. Tôi còn nhớ khi học tiểu học, tôi học trường Hòa Vang, trường nầy thuộc tỉnh Quảng Nam mặc dù tôi là dân Ðà Nẵng, nhà tôi cách trường chừng bảy trăm mét. Họ chấp nhận cho tôi vào học tức là họ xem tôi là thành phần con cháu của Quảng Nam. Nói thế để quý vị các tỉnh khác biết rằng nói đến Ðà Nẵng tức là nói đếùn Quảng Nam. Chớ dại thấy mấy ông Quảng Nam ngồi đó mà đụng chạm đến Ðà Nẵng thì quý vị sẽ bị phản ứng ngay lập tức, “cãi” cho tới cùng.

Tôi sinh ra và lớn lên tại làng Nại Hiên Tây thuộc trung tâm của Ðà Nẵng,( Ðà nẵng lúc ấy chỉ có 7 làng tại trung tâm: Bình thuận, Phước Ninh, Nam Dương, Thạch Gián, Thạch Than, Hải Châu, Nại Hiên Tây), ranh giới phía tây là ngã ba Huế, Phía nam là Chợ Mới, đông bắc đều giáp biển. Làng tôi nghèo nhất thị xã, dân chúng phần đông sống bằng nghề khuân vác bến tàu hoặc các kho hàng, một số ít buôn gánh bán bưng. Tôi lớn lên giữa một phố nghèo xơ xác. Có ai đó nói rằng quê hương như vậy thì chẳng có chi là thơ mộng nên làm sao mà viết được. Bây giờ tôi mới hiểu ra được một phần, tôi có quá nhiều điều để viết về quê tôi, từ con người đến con đường, từ mái nhà đến góc phố v.v…trong lòng tôi tất cả đều khác những nơi tôi đã đi qua, nó dễ thương hơn, đẹp đẽ hơn, mật thiết hơn, vì đó là quê hương của tôi. Nó là hiện thân những cái gì trân quý nhất chất chứa trong lòng tôi, “Quê hương mỗi người chỉ một..” câu hát khi còn ở Việt Nam tôi thấy nó rất “sáo” làm sao ấy, thế mà qua Mỹ thỉnh thoảng nghe lại bỗng dưng tôi ray rức, cuống cuồng. Mỗi lần nghe bài nầy là Ðà Nẵng hiện ra trước mắt tôi, giòng sông Hàn đang lững lờ trong đầu tôi, khuôn mặt của những thằng bạn nhỏ chập chờn ẩn hiện. Như vậy mới biết quê hương luôn luôn nằm trong trái tim, luôn luôn chực chờ, phục kích đâu đó sẵn sàng tràn ngập khi có dịp.

Nhà tôi gần Cổ Viện Chàm, những buổi trưa hè oi bức rủ vài thằng bạn vào đây ngồi dưới tượng Chàm mát rượi, chạy trốn cái nóng của gió Lào đang vật vã quê tôi, mỗi lần vào đây tôi thấy trong người lâng lâng, những hình tượng đầu voi, mặt khỉ không làm cho tôi sợ mà tôi lại thấy thân quen. Tôi thường hay ra ngồi những bậc tam cấp dưới những hàng sứ già nhìn ra sông Hàn, những con thuyền buồm trắng qua lại dọc trên sông thật thơ mộng. Hình như khi tôi biết những hình ảnh qua trước mắt tôi “thơ mộng” thì chính lúc đó tôi cũng bắt đầu làm thơ. Những câu thơ “con cóc” đầu tiên ra đời chuyên chở những thứ lãng mạn tưởng tượng. Hồi học lớp nhất đăng được một bài thơ trên báo Tuổi Xanh ở Sài Gòn mang vào lớp khoe với chúng bạn đến tai cô giáo, cô gọi tôi lên đưa tờ báo cho cô xem, cô không cho tôi một lời khen nào mà phán một câu: “Học hành chẳng ra chi mà bày đặt thơ với thẩn”. Cô giáo đã bóp chết tài năng của tôi vừa chớm nở. Từ đấy vì quá mắc cở với bạn bè tôi không dám làm thơ, không làm thơ nhưng học hành cũng chẳng ra chi, thi trượt vào đệ thất trường Phan Châu Trinh, đành phải mài lũng đít quần ở trường Tây Hồ và Sao Mai. Ðây là khoản thời gian đẹp nhất của tôi, để lại cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui nhất trong đời, cái thuở học trò vừa mới lớn, yêu thầm nhớ trộm, mơ mộng viễn vông.

Cũng như những thành phố khác Ðà Nẵng cũng có những con đường dễ thương, tình tứ, một bờ sông nên thơ mà những kẻ yêu nhau để lại ở đó biết bao kỷ niệm. Thuở còn đi học thỉnh thoảng trong lớp thường tổ chức những cuộc picnic bằng xe đạp, từng đoàn học sinh đạp xe lượn vòng trên các con đường đi Sơn Chà, Tiên Sa, Mỹ Thị, Non Nước, Nam Ô, Khuê Trung, Cẩm Lệ…những địa danh thân thuộc mà mấy chục năm xa rời Ðà Nẵng tôi vẫn nhớ rành rọt từng gốc cây, con đường, bãi cát. Những quán cà phê Diệp Hải Dung, Cà phê Hạ, cà phê Ngọc Lan, cà phê Thông Tin, mà tôi đã ngồi hàng giờ để nhìn những giọt cà phê rơi xuống đáy ly. Kiosque bên kia đường của cà phê Thông Tin là tiệm bán kính đeo mắt, có một người con gái rất đẹp tên là Ðông, đã làm điêu đứng biết bao thằng học sinh trồng những gốc”si” tổ bố, hình như lúc ấy tôi cũng ở trong nhóm lóc nhóc nầy. Rồi một ngày nào đó nghe tin Ðông lấy một ông sĩ quan Hải quân và vắng mặt ở tiẹâm kính bên kia đường, lúc ấy tụi tôi cũng không còn thích thú uống cà phê ở góc đường Thông Tin nữa.

Làm sao tôi quên được những cái tên Trương Thị Ngọc Thật, Lâm Thị Sâm, Phan Thị Sách, Nguyễn Thị Thy, những người một thời đã làm rớm máu trái tim “mới lớn” của tôi, đã nâng tôi lên chín tầng mây rồi nửa chừng thả tôi rơi xuống hố thẳm, cho tôi nếm thử mùi vị ngọt ngào, cay đắng của một thứ tình yêu tưởng chừng như không thật, cho tôi những tháng ngày buồn vui rộn rã, bơm cho tôi no tròn nhưng cũng đâm cho tôi xì hơi xẹp lép và cũng bắt đầu từ đó tôi sợ hãi những người con gái có chút nhan sắc nhưng lại tính toán chi li trong tình yêu, đem tình yêu làm trò tung hứng nô đùa. Ðà Nẵng giết mòn mõi tôi của những ngày mới lớn, đẩy tôi đến tận cùng bờ tuyệt vọng của cuộc đời. Thế mà với tôi luôn luôn và bao giờ tôi cũng trân quý, thương nhớ đến thành phố nầy. Ngoài trừ bài học đầu tiên về tình yêu còn tất cả nơi đây đã tập và dìu dắt tôi từ bước đi đến lời ăn tiếng nói, từ một tấm lòng dành cho tha nhân đến căn bản đạo đức làm người, nghĩa là Ðà Nẵng là một biểu tượng cao quý nhất chiếm hầu hết những suy nghĩ của tôi.

Xa Ðà Nẵng gần 30 năm, mỗi lần gặp ai đó cùng quê nhắc lại hai chữ Ðà Nẵng là tự nhiên lòng tôi quay quắt muốn trở về. Tự nhiên những hình ảnh những người thân của tôi hiện lên. Ba tôi , một thầy giáo hiền hòa, suốt đời tận tụy với nghề nghiệp, suốt đời sống trong bần cùng nhưng trong sạch, người dân làng Nại Hiên quý trọng ông, ước ao của ông cũng bình dị như những người dân nghèo quê tôi là mong cho con cháu nên người, còn cái khổ cực của bản thân ông không đáng kể. Khi tôi vừa đặt chân đến Mỹ vài tháng thì được nghe tin Ba tôi mất, ông chưa kịp hưởng được những đồng đô-la do tôi gởi về thì ông vội vàng ra đi, sống trong nghèo khổ chết trong thanh bạch. Ba tôi trước đây có một người bạn thân thiết như anh em ruột . Chú đúng là hình ảnh người Quảng Nam chân chính. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của chú, mỗi lần trong quê ra Ðà Nẵng dự đám giỗ kỵ, Chú mang khăn đóng áo dài, đôi guốc mộc bao giờ Chú cũng kẹp nách chứ không mang. Vào đến nhà ngồi trên ghế đàng hoàng, bắt đầu Chú phủi hai bàn chân vào nhau rồi nhè nhẹ đặt chân vào guốc, nếu xỏ mạnh như sợ đôi guốc bị đau. Từ bến xe về nhà tôi cũng xa, trưa nắng như đốt đường cái nóng sôi, thế mà chú Kết của tôi không sợ da chân bị lột, bị bỏng, mà sợ đôi guốc bị mòn. Có lần đến bên Chú hỏi về điều nầy, Chú mộc mạc trả lời, đi chân đất quen rồi mang guốc khó đi, hơn nữa đi xa sợ guốc mau mòn. Ðó là hình ảnh tiết kiệm cố hữu của những người dân quê tôi.

Ba tôi thường ngồi kể cho tôi nghe những chuyện về con người, tập quán, phong cách, ăn uống của người Quảng Nam Ðà Nẵng qua cái nhìn mang chút hài hước của ông. Có lần nhìn chú Kết, ông nói với tôi, các thư sinh Quảng Nam ngày xưa ra Huế đi thi, làm sao mà mang guốc lội bộ qua năm cái đèo, phải đi bằng chân đất như Chú Kết bây giờ vậy, ra đến Huế thì đoàn thư sinh Quảng Nam không giống ai hết, quần thì ống cao ống thấp, áo thì vắt vai, guốc thì kẹp nách, giọng nói rổn rảng khó nghe có phần cộc cằn, đôi lúc “móc họng” người ta. Thế mà các tiểu thư Huế lại chịu cái loại đàn ông nầy, đàn ông thật thà chất phát, ăn cục nói hòn nhưng trong bụng đầy kinh thư chữ nghĩa. Bằng chứng là năm ông quan đầu triều Nhà Nguyễn được phong” Ngũ Phụng Tề Phi”. Người Quảng đi đâu, ở đâu mỗi lần nhắc nhở về quê hương, họ cũng đều hãnh diện, sướng rân lên với cái xứ sở ” Ngũ Phụng Tề Phi” của họ. Ðể an ủi cho cái nghèo, cái thiếu ăn, họ cho rằng đất của họ ” nhân tài mọc nhiều quá lúa mọc không nổi”, nên cái chuyện quanh năm không đủ gạo phải ăn độn là chuyện bình thường. Nói đến cái ăn thì quê tôi “kỵ” nhất là đồ ăn có nước nhiều lỏng bỏng mau đói, mì Quảng thì rau phải xắt nhỏ để chứa được nhiều, nước lèo chan vừa đủ thấm. Không có nơi nào ăn mặn bằng dân Quảng Nam, mắm phải mặn cho đở hao. Mít thì thích ăn mít ướt để ăn được nhiều còn mít ráo vài múi thì đã ớn. “Aên chắc mặc bền” đó là câu thực dụng nhất cho quê tôi. Khi còn ở Sài Gòn tôi có một cơ sở làm ăn nhỏ, thỉnh thoảng cũng làm mì Quảng, bánh đập để đãi công nhân. Theo thói quen mì chan ít nước giống như ngoài mình, nhưng dân Nam Kỳ ăn như vậy không quen họ phải chan nước cho đầy như bún bò hay phở, còn bánh đập họ không chấp nhận được vì bánh đập trong Nam có thịt bò nướng kẹp vào, bánh tráng bánh ướt trống trơn chấm mắm thì chẳng có chi hấp dẫn. Có một lần về lại Ðà Nẵng các bạn tôi dẫn đi Cẩm Lệ để ăn bánh tráng cuốn thịt heo, khi chấm vào chén mắm cái, tôi mới giật mình vì mắm quá mặn, khẩu vị của tôi không còn thích hợp vì mấy chục năm sống trong Nam tôi quen với mắm nêm có vị lạt hơn, ngọt hơn.

Một lần về thăm Ðà Nẵng, ngồi trước nhà người bạn ở đường Ðộc Lập, một chuyện thật tức cười làm tôi thấy thương và tội nghiệp cho quê tôi. Ðường Ðộc Lập xưa nay chỉ chạy một chiều, xe đang chạy thuận giòng bỗng dưng có một thanh niên từ đâu chạy ngược chiều và tông vào một xe khác. Hai bên thả xe ra giữa đường to tiếng cãi nhau suýt ấu đả, phải trái gì không biết cứ cãi nhau, đúng ra chỉ một lời xin lỗi thì mọi chuyện đều xong, vì hai xe chẳng thấy hư hại gì, thế mà họ “tiết kiệm” một lời xin lỗi và dùng thoải mái lắm lời cho việc cải vã. Ðúng là xứ Quảng Nam hay cãi của tôi, về Sài Gòn kể lại chuyện nầy với anh Tường Linh, bằng cái giọng lý sự rất Quảng Nam của ảnh vừa nói chơi vừa nói thật: ” ông bà của mình ngày xưa tội đồ của Triều đình bị đày vào xứ Quảng Nam, trên đe dưới búa, thấp cổ bé họng, sự uẩn ức lâu ngày đè nén nên khi tràn ra được thì cứ tràn, cãi nhau không cần phải trái trắng đen, miễn sao cho hả được giận. Nên tụi mình có cái “gen” nầy.” Người xứ khác làm sao hiểu được cái “kỳ cục” nầy của người ngoài mình, họ chỉ thấy sự ương ngạnh ngang ngược, câu nói mang hai ba nghĩa mạt sát, thọc gậy, móc họng đối phương. Họ làm sao hiểu được cái bản tính dứt khoát, chịu đựng, chung thủy của mình. Yêu, ghét, bạn, thù phân minh. Hồi còn nhỏ tôi sợ nhất là những ngày giỗ kỵ hay chạp mã, thế nào trong bữa ăn cũng có cãi lộn, cũng to tiếng, cũng nói móc, xỉa xói với nhau, hình như đây là cái tật và đúng dịp để mọi người tự do phát biểu, nói ra được các điều u uất trong lòng cho vơi đi chút tự ái, thua thiệt.

Bạn bè của tôi phần đông ở các quận Ðại Lộc, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Hội An nên nhà tôi ở Ðà Nẵng là trung tâm vãng lai của bạn bè. Hạ Ðình Thao, Lê văn Trung, Vũ Ðức Sao Biển, Kiều Uyên, Ngô Thi, Ðỗ Hơn, Nguyễn Thang, Thái Tú Hòa. Ðó là những người khách thường xuyên nhất của tôi khi còn học sinh, chúng tôi có với nhau những kỷ niệm sâu đậm của thuở hàn vi, các “thi hào” nầy dần dần rụng mất sau cái thời Tiểu Thuyết tuần san của ông Nguyễn Thiện Dzai đình bản, chỉ có một hai người còn đeo đuổi nghiệp viết lách như Vũ Ðức Sao Biển, Lê Văn Trung. Cái thời học sinh thật dễ thương, mang nhiều mộng mỵ, thư tình viết tràng giang đại hải không biết mệt, thuốc lá hết điếu nầy sang điếu khác hút không kịp thở. Ơû Sài Gòn nhà tôi sau nầy cũng trở thành nhà khách cho các bạn cũ ở Ðà Nẵng vào và thêm các anh Hà Nguyên Thạch, Ðinh Trầm Ca, Phan Nhự Thức, Uyên Hà. Tôi có dự đám cưới của anh Phan Nhự Thức hồi còn ở Sài Gòn, ngồi cùng bàn với Anh Chị Hồ Thành Ðức và Bé Ký (nhưng lúc ấy tôi không quen với anh chị và cũng chẳng có ai giới thiệu cho tôi biết). Anh Tường Linh sau 75 cùng làm việc với tôi ở một tổ hợp sản xuất Bột trẻ Em Ðông Phương ở đường Bạch Ðằng Bình Thạnh. Còn anh Ðinh Trầm Ca cùng làm với tôi ở kem đánh răng Mimosa. Ðó là những khuôn mặt văn nghệ của xứ Quảng mà tôi đã quen và thân thiết.

Tôi lập gia đình tại Sài Gòn, vợ tôi là người Bắc, khi quen nhau không biết rằng vợ tôi trước đây sống và lớn lên ở Ðà Nẵng, xuất thân từ Trường Pascal. Khi hai đứa đến hồi “gở không ra” thì tôi mới phát hiện vợ tôi biết quá nhiều về quê tôi, kể vanh vách cho tôi nghe từ con đường góc phố, từ ly chè Ngã Năm đến tô bún bò Bà Ðào, từ bánh bèo chén trường Nam Tiểu Học đến bánh xèo đường Lê Ðình Dương, từ bến đò Hà Thân đến bãi biển Thanh Bình. Và cuối cùng phán cho một câu: “Em sợ cái xứ đó quá rồi chạy vào đây mà cũng không tránh khỏi”, lời trách móc đáng yêu đó tôi nhớ suốt đời. Con gái Bắc tế nhị, khéo léo bao nhiêu thì con trai Quảng Nam cộc cằn, độc đoán bấy nhiêu, họ kín đáo, thầm lặng bao nhiêu thì mình hoạch toẹch, ồn ào bấy nhiêu. Oâi cái xứ mình tạo ra những con người như thế, quá thẳng thắng, quá cứng rắn, mà cái gì “quá” thì nó cũng căng dễ đứt, không hay. Vừa phải chừng mực thì tốt hơn. Thế nhưng người Quảng thì không chịu thái độ không dứt khoát nầy, chấp nhận tràn đầy chứ không thể lưng chừng. Ðó là một đức tính rất tốt nhưng khi xử thế rất ít thành công. Một lần về thăm lại Ðà Nẵng chở vợ đến nhìn lại ngôi trường Pascal, đứng trước cổng trường vợ chồng tôi xúc động ghê ghớm, không ngờ một ngôi trường đẹp đẽ hiền hòa đã bị tàn phá thô bạo như vậy, thảm cỏ xanh mướt ngày nào bây giờ thành bãi chất cây cối ngổn ngang, những lớp học ngày xưa biến thành chổ sản xuất. Vợ tôi không còn can đảm đứng nhìn thêm, cúi đầu rưng rưng nước mắt. Tới trường Sao Mai đứng ở cổng sau (đường Lê Ðình Dương) nhìn vào, ngôi trường hằng mấy chục năm không được tu bổ, tường rêu phong loang lổ, học sinh ăn mặc lếch tha lếch thếch, thầy cô giáo cũng chẳng hơn gì. Nhớ ngày xưa các thầy của tôi đứng trên bục giảng oai phong biết mấy, quần áo tươm tất, cà vạt hẳn hoi. Làm sao tôi quên được hình ảnh đó của các thầy cô: Trương Thị Thúy, Mai văn Bộ, Hoàng Vinh, Hà Thúc Lễ, Vĩnh Linh, Lâm sĩ Hồng, Hồ Sĩ Hùng, Lê văn Nghĩa, Nguyễn văn Hương, Nguyễn Tàu, Lê Chương, Ðức Cha Lê Văn Ấn, Cha Vũ Như Huỳnh, những người dìu dắt tôi cho tôi những kiến thức để sống với đời, những căn bản đạo đức để sống với người. Bao giờ trong tôi các thầy cũng để lại một sự kính trọng không thể phai nhạt được. Sau một vòng thăm lại các trường cũ trở về, vợ chồng tôi ngậm ngùi đau xót, Ðà Nẵng của tôi tang thương như vậy sao, tâm trạng vợ chồng tôi lúc ấy giống như Trần Doãn Nho đã viết: ” Tôi đi trên thành phố thân thương mà như đang phiêu du ở vùng đất xa lạ”, hoặc ” Tôi sống giữa quê hương mà như người khách lạ.”. Nơi đó cũng còn lại những người bạn học cùng tôi thuở nào: Liêu, Ký, Bích, Dũng, Quang, Kim Sơn, Hường, Trang , Thùy Dương, Nga,Thư. Mỗi lần có dịp về lại Ðà Nẵng họ tiếp đón tôi như một người thân. Bạn trai, bạn gái trong tiệc rượu nâng ly cụng với nhau chẳng nệ hà, sống lại với nhau những ngày xa cũ.

Tôi ở vùng ngoại ô Boston, Bạn của tôi là mấy ông Quảng Nam rất cực đoan ở cách xa nhau, họ cho tôi là thứ Quảng Nam mất gốc bởi cái tính ba phải cả nể của mình, “thằng mô không phải là chưởi dô mẹt hắn, chớ đừng nhân nhượng ốt dột như rứa”. Chỉ có Trần Trung Ðạo hay bênh vực cho tôi, không có bao nhiêu người mà mỗi lần gặp nhau cãi nhau như mỗ bò. Thế nhưng tuần nào có làm món ăn Quảng Nam là gọi nhau ơi ới, nhà anh Dư Mỹ hay nấu những món đặc sản Quảng Nam và vợ chồng tôi là khách thường xuyên. Nhà anh Nguyễn Ngọc Thanh thì hay sưu tầm các loại mắm Quảng Nam, cho đến bây giờ tôi cũng không biết làm cách nào mang các thứ ấy vào Mỹ, những thứ mắm cái cá nục, cá cơm còn nguyên con đỏ au mùi vị y chang như mắm ở ngoài mình, quý lắm thân thiết lắm như tôi với anh Dư Mỹ mới được xớt một chút ít. Ở quê mình vài con mắm một trái ớt là xong bữa cơm, chẳng cần chi cao lương mỹ vị, quả thật dân mình quá khổ. Ði xa càng thấy nhớ và càng thương cho những con người không thể rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mã ông bà. Những con người suốt cả cuộc đời bám chặt với ruộng vườn, không màng đến vật ngon của lạ, khoai sắn là chất độn trường kỳ. Ngồi đây mỗi lần nghe tin bên quê nhà gặp thiên tai bão lụt là lòng tôi thóp lại, cái cảnh màn trời chiếu đất khi còn nhỏ đã chứng kiến tự nhiên hiện lên trước mắt tôi, chỉ còn biết cách cầu trời khẩn phật cho quê tôi sống bình yên. Ðó là điều rất khó bởi lẽ giãi đất Miền Trung nơi chịu nhiều tai họa, chỉ có nhiều hay ít, chứ không thể nào có bình yên thật sự.

Ðà Nẵng của tôi, làm sao tôi trang trải hết được tấm lòng của đứa con xa xôi, nghĩ về quê me…ï Trên những giòng chữ làm sao tôi mô tả sự dấu yêu, thương cảm, mà tôi đã dành hết cho giãi đất chôn nhau, cắt rốn thân yêu nầy. Chữ nghĩa của tôi cũng hạn hẹp, không đủ, thì làm sao tôi diễn đạt những điều ray rức của nhớ mong trên những trang giấy. Thôi thì, có viết thêm cũng không thể nào viết hết. Ðà Nẵng cho tôi xin cúi đầu từ biệt…

Phan Xuân Sinh
Boston, mùa hạ 1998

ĐÀ NẴNG XƯA VÀ NAY


ĐÀ NẴNG QUÊ TÔI

Bấy lâu nay tôi vẫn thường tự hào về Đà nẵng là nơi tôi được sinh ra và lớn lên suốt một thời niên thiếu, ấy vậy mà tôi chẳng có chút kiến thức gì về Đà Nẵng.
Hôm nay tình cờ lạc vào blog của anh caothong (anh caothong cũng copy từ blog của bạn Cuồng Từ) tôi mới biết về lịch sử của thành phố nơi mình đã được sinh ra. Xin phép anh caothong và bạn Cuồng Từ (một người dân Nha Trang nhưng hiểu biết khá sâu sắc về TP Đà nẵng) để copy bài viết về blog của mình.

Vùng đất Đà Nẵng xa xưa là đất của Chiêm Thành. Đời vua Trần Anh Tông, vua gã công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm 

Chế Mân l vua Chiêm dâng hai châu: là châu Ô, châu Lí làm sính lễ … Sau đó đất này lại trở về Chiêm .
   Tháng 6-1471, Vua Lê Thánh Tông đánh thắng Chiêm, lấy đất từ nam Hải Vân đến Thạch Bi Sơn lập ra đạo Thừa Tuyên Qung Nam (có nghĩa là: vùng đất rộng phía Nam)
   Dọc theo chiều dài gần sáu trăm năm lịch sử, vùng đất bên bờ sông Hàn này đã có nhiều tên như : Hàn , Đồng Long , Hiện 
Cảng, Tourane, Thái Phiên, Đà Nẵng.
Vua Lê Thánh Tông có thơ tả về đất này như sau :
     ” Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt 
       Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạt thuyền “

 
     Từ tháng 12-1946, Mặt Trận Việt minh gọi Đà Nẵng là Thái Phiên, còn tỉnh Quảng Nam thì mang tên Trần Cao Vân. Tế Hanh có thơ :
    ” Thành Thái Phiên tắm mình trong khói lửa
      Đất anh hùng lần nữa quyết hi sinh “
   Đà Nẵng đã được đô thị hóa khá sớm, có lẽ chỉ sau Hội An. Từ thế kỉ 19, lịch sử đã đẩy Đà Nẵng vào cái thế  “làng – phố” , hậu quả của đô thị hóa được phân chia khá độc đáo :
   ” Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân, nước xanh như tàu lá
   Đứng bên tê Hà Thân ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang! “
    Sông Hàn phân chia làng và phố . Có một câu dân gian: “Con gái quận ba không bằng bà già quận nhất”, có lẽ đó là câu nói tự trào về cái cảnh “thua chị kém em” của dân hữu ngạn so với cư dân tả ngạn. Lối xưa, có việc qua sông, người bên hữu ngạn vẫn quen gọi là “đi Đà Nẵng”, dù họ đang trú ngụ ngay trên đất Đà Nẵng, nhưng phía bên làng, không có “phố xá nghênh ngang” , đông vui như Đà Nẵng :
    ” Cảnh mô vui bằng cảnh đất Hàn
      Dưới sông tàu chạy, trên đàng hỏa xa 
      Kho dầu Đồng Lợi, Ba Toa
      Trường Lăng máy gạo bước qua chợ Hàn “
   Năm 1965, M đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ hỗn hợp quân sự lớn.  Đà Nẵng mở rộng, bên cạnh căn cứ quân sự là kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông tin, tín dụng ngân hàng …
   Xưa, Đà Nẵng có hai ga, một ở trên đường Bạch Đng, bên sông Hàn, và một nằm ở trong thành phố .
   Có bảo tàng cổ vật Chàm, do Musée Parmentier sáng lập vào thời Pháp thuộc . 
   Có Nhà Thờ Chính Tòa Đà Nẵng, khởi công năm 1923, do linh mục Vallet vẽ phác thảo và chủ công xây dựng, còn gọi là nhà 
thờ Con Gà, bởi trên nóc nhà thờ cao 27m này có con gà màu xám làm bằng hợp kim, trơ gan cùng tuế nguyệt .
   Có chùa cổ Linh Ứng, có Vọng Hải Đài nơi thi sĩ Phạm Hầu đã làm bài thơ “Vọng Hải Đài” nổi tiếng:

 
     Chẳng biết xa lòng nhớ những ai
     Thềm hoa từng dội gót vân hài
     Hỡi ơi! Ngươi chỉ là du khách 
     Giây phút dừng chân Vọng Hải Đài 
     Cơn gió nào lên một buổi chiều
     Ai ngờ thổi tạt tấm tình kiêu 
     Tháng ngày đi rước tương tư lại
     Làm rã chân thành sắp sửa xiêu
      Trống trải trên đài du khách qua
      Mấy ngày vơ vẩn gió đêm là
      Và muôn đời hãy còn vương vấn 
      Một sắc không bờ trên biển xa 
      Lòng xiêu xiêu hồn nức hương mai
      Rạng đông về thức giấc hoa lài
      Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
      Chẳng biết xa lòng có những ai ?
   Trên mỏm núi Sơn Trà có hệ thống rada mắt thần , thiết kế theo hình tròn rất độc đáo. Những năm 60, có nhà hàng nổi trên sông Hàn, có dãy quán bán nước giải khát dọc bờ sông trên đường Bạch Đằng xưa, trên sông có những con tàu thủy lớn chạy qua dòng sông thơ mộng với những cô gái chèo đò trên sông.
   Bên sông Hàn có cầu Cảng, có nhà ga cảng dựng thời Pháp, đắp chữ nỗi “Bến Cá Bạch Đằng”, hình như nay là cầu quay (?)
   Biển Đà Nẵng đẹp, ngày xưa bị phong tỏa bằng dây thép gai …
 Xưa làng Phong Lệ có lễ hội mục đồng, nay chắc làng không còn trẻ chăn trâu?. Làng biển Xuân Hòa, Mân Thái có lễ hội cầu ngư , nay hẳn còn, lễ lớn hơn xưa ?.
    Người Đà Nẵng có nụ cười và “tấm lòng Đà Nẵng”, với những cuộc nhậu tàn đêm. Nói nhậu thì vùng nào cũng có, nhưng không phải mọi cuộc “nâng lên để xuống” nào cũng giống nhau.  Đà Nẵng nhậu không khách sáo, hình như hơi thái quá, nhậu thâu đêm còn dùng dằng … không nở rời nhau.
    Đà Nẵng sẽ rất buồn nếu không có quán nhậu? Đó là ngày xưa . Lần này ra Đà Nẵng, thấy qun nhậu nhiều hơn ngày xưa, nhưng CT không uống giọt rượu nào, chỉ uống tràn kỉ niệm:
” Chẳng biết xa lòng nhớ những ai! “
 
 
                                    
 
 
                                                                                 Cầu sông Hàn hiện nay
Cầu rồng Đà nẵng (nay)

Chùa linh ứng trên núi Sơn Trà ngày nay

Tập tin:Da Nang North Beach vista.JPG 
Đường Nguyễn Tất Thành ngày nay

Tập tin:Đà Nẵng Fair Exhibition Centre.jpg
 Trung tâm hội chợ và triển lãm ngày nay
Tập tin:Khuon vien khu f.jpg 
Khuôn viên trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng


  Các khu nghỉ dưỡng Đà nẵng ngày nay

Tượng Quan Âm trên chùa linh ứng


     
                                                                Làng đá Non Nước (nay)

 Chợ Cồn xưa

Bờ sông (Hàn) Bạch Đằng (xưa)
 
Trường Trung học tư thục Phan Thanh Giản và các thầy cô giáo xưa,
nơi đây tôi được từng theo học.
 
Nữ sinh Phan Thanh Giản Đà Nẵng xưa

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nữ Trung Học Hồng Đức Đà Nẵng (xưa)
 
 Chợ Hàn (xưa)
Rạp Hòa Bình – Đà Nẵng (xưa)

 
Bưu điện Đà nẵng xưa
 
 

Dọc bờ sông Bạch Đằng xưa



Cầu Trịnh Minh Thế xưa

   
   

Quán nước bờ sông Hàn-đường Bạch Đằng xưa


Đường Bạch Đằng- Bến đò An Hải

 Xích lô dọc đường Bạch Đằng ĐN 



Bờ sông Hàn trước Bưu điện Đà Nẵng 


Đường Gia Long xưa

Nhà thờ chính Đà nẵng (nay)

Đà Nẵng xưa do bác Ngô Bá Dũng sưu tầm


Vua Thành Thái vi hành Đà Nẵng bằng tàu Hỏa (người đang dắt một Hoàng tử từ tàu 

hỏa bước xuống). Bên dưới là những cận thần lo việc bảo vệ. Trông dáng vua có chiều
 cao rất khiêm tốn (điều nầy phù hợp với sử sách) .


Thuyền của nhà vua đi thăm cửa Hàn


Đà Nẵng, đón rước vua Thành Thái đi kinh lý và thăm một ngôi chùa.
 Ảnh cho thấy binh lính tất bậc với cờ, kiệu, lọng, dù. Hộ giá đức Vua.
Cổng ngôi chùa này giống với chùa An Long (một ngôi chùa cổ, tọa lạc
gần cổ viện Chàm- có trong album nầy)


Ga chính của Đà Nẵng xưa, được xây dựng vào năm 1905 trên đường Lagtie (nay là đường Hải Phòng), Gare principale de Tourane – Old


Đường rail hỏa xa và Ga phụ chạy dọc sông Hàn. Tàu hỏa chuyển hàng hóa và khởi hành tại đây
 Tàu chạy bằng than, phun khói mù mịt, thỉnh thoảng có kèm theo tro lửa nên dân ta quen gọi “tàu lửa”.


“Cảnh mô vui bằng cảnh đất Hàn
Dưới sông tàu chạy, trên đàng hỏa xa”


Tàu lửa từ Đà Nẵng đi Huế. Những nhân viên hỏa xa đang tất bật cho
 chuyến khởi hành. Thị dân Đà Nẵng phần lớn đi chân đất, nam nữ đều
đội nón lá có vành rộng, đi hoặc đứng đều có thói quen chắp tay phía sau!


Hỏa xa ở Đà Nẵng (trên đường Bạch Đằng ngày nay)


Cầu Nam Ô, một cây cầu đẹp, không thua gì cầu Tràng Tiền ở Huế.
Vùng này có sản phẩm nước mắm và món gỏi cá rất nổi tiếng – Liên Chiểu Đà Nẵng

 
Những công nhân điện tín đầu tiên của Đà Nẵng vào năm 1906.
Có tên gọi nôm na là nhà dây thép ! Tiền thân của Bưu điện Đà Nẵng bây giờ!

 
Những ngư dân đánh cá đầu tiên ở Đà Nẵng- Những tiền hiền nghề biển
 của các ngư dân Sơn Trà ngày nay( hữu ngạn sông Hàn ), trông họ rất khỏe mạnh,
 vạm vỡ và đen nắng. Ảnh chụp cho thấy sinh hoạt, nhà cửa chủ yếu bằng tranh tre, 
có mái rất thấp để tránh bão tố khắc nghiệt thường xuyên của vùng nầy.
 
Tòa Thị chính (cũ) – sưu tầm từ bưu thiếp

Khách sạn MORIN de Tourane (do anh em nhà Morin) ở Đà Nẵng ngày xưa sáng lập.
 Nay là Khách sạn Bạch Đằng (Morin có một chuỗi các khách sạn tại Việt Nam
gồm Huế – Đà Nẵng và Bà Nà )
 
Đường Độc Lập 1965. Nơi đây có rạp chiếu phim Kinh Đô.

 
Bến sông Bạch Đằng 1964

 
Ngư dân cào nghêu ở bãi biển Thanh Bình 1960

 
Buổi sớm ở Thọ Quang

Làng Thanh Khê xưa (ven đường xe lửa) Nhà cửa thấp, hầu hết bằng tre, lợp lá hoặc rơm rạ.

 
Đường Bạch Đằng 1963

100 năm trước Jules Ferry và nay là đường Trần Phú, 
con đường sầm uất của Đà Nẵng ngày nay. (Tòa nhà lớn là bệnh viện quân đội Pháp)

Trong lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam, Đà Nẵng 
là vùng đất truyền giáo thuộc loại sớm nhất. Hồi đầu, 
cả thành phố chỉ có một nhà thờ trong khu vực thành Điện Hải
 do quân Pháp chiếm đóng (ảnh trong album này). 
Năm 1923 nhà thờ chính tòa mới được xây dựng trên Rue du Mussé. 
Bức ảnh này cho thấy giáo dân Đà Nẵng đang đón mừng Noel khi chưa có nhà thờ. 
Có lẽ tấm ảnh này được chụp vào những năm đầu của TK XX.

Nhà thờ Chánh tòa ( còn gọi nhà thờ Con Gà) do trên nóc 
có biểu tượng con gà trống Gaulois. Nhà thờ nằm trên Rue du Mussé 
(đường Trần Phú ngày nay)

 
Nhà thờ Chánh tòa – ảnh chụp 1925

Bên trong nhà thờ Chánh tòa xưa. Người có râu dài có lẽ là cha cố đạo Vallet, 
người phác thảo tổng thể về kiến trúc của ngôi nhà thờ này.

 
Bên trong nhà thờ Tourane (nhà thờ chính) trong ngày lễ trọng 14 tháng 9 năm 1924.

Đường Bạch Đằng ( rue Courbet ) – Trụ sở của hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương và Phi Châu
(L’U.C.I.A) lập năm 1904- Về sau là trụ sở Tổng lãnh sự Hoa Kỳ trước 1975 –
Sau năm 1975 là nhà trưng bày chứng tích tội ác ĐQM – Ngày nay là tòa nhà khách sạn
Indochina River side – Ảnh cho thấy đây là con đường trung tâm của thành phố Đà Nẵng,
 nơi có bến tàu, đường hỏa xa và các tòa nhà lớn của các công ty thương mại.
Một chiếc Renault 1927 của hãng Staca đang chở khách trên đường.
Phía xa là những chiếc xe kéo và những cư dân lao động buôn gánh bán bưng trên vỉa hè. – OLD

 
Trại lính Pháp xưa- BCH Thành Đội Đà Nẵng bây giờ

 
Tòa Thị Chính Đà Nẵng 1970

 
Tòa Thị Chính và trụ sở Cty Shell xưa – Tòa nhà làm việc của
UBND & HĐND thành phố Đà Nẵng bây giờ.

Chợ Cồn – Được xây dựng những khoảng năm 1940, trên một cồn đất cao giữa lòng thành phố,
nơi đây nguyên là bãi phóng uế công cộng nằm trước Kho Đạn,
cồn đất này sau đó được san bằng để làm ngôi chợ. Đây là ngôi chợ vào loại lớn,
 buôn bán sầm uất của Tp Đà Nẵng. Năm 1984 chính quyền thành phố đã cho
xây lại chợ với tên là Trung tâm Thương nghiệp Đà Nẵng nhưng nhân dân vẫn
quen gọi là Chợ Cồn. Ảnh cho thấy cổng chợ nằm trên mặt tiền đường Khải Định (Ông Ích Khiêm bây giờ).

 
Chợ Cồn, Đà Nẵng 1949
 
Chợ Cồn

 
Đà Nẵng 1945 – Trước chợ Hàn.

 
Chùa Pháp Lâm Đà Nẵng xưa
 
Chùa Vu Lan xưa, một ngôi cổ tự. Ngày nay chùa tọa lạc tại 84 Núi Thành, quận Hải Châu, tp. Đà Nẵng.

 
Tòa nhà này hiện nay vẫn còn giữ được kiến trúc như ban đầu (đường Bạch Đằng)

 
Nhà thờ và bệnh viện trong khuôn viên thành Điện Hải xưa.

Thành Điện Hải được xây dựng kiên cố vào năm 1823 (Minh Mạng) theo kiểu vauban,
có thành cao 12 mét, nơi đây vào năm 1858 đã xẩy ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa quân dân Đà Nẵng
(do Thống chế Lê Đình Lý, rồi đến Thống chế Nguyễn Tri Phương chỉ huy) với liên quân Pháp – Tây Ban Nha .
Nhà thờ và Bệnh viện xưa (trong ảnh) được xây trên nền của thành Điện Hải –
Ngày nay nhà thờ không còn nữa. Phần đất thấp, kế nhà thờ,
nay là Công viên Phần mền và thành Điện Hải đang được trùng tu.
Tại khu vực nầy khi xây dựng, người ta đã phát hiện nhiều loại vũ khí xưa.

 
Trẻ con trên vùng cát _ Sơn Trà ngày xưa! Không áo, không quần.
Suốt ngày rông chơi trên cồn cát.
 
Những người thợ điêu khắc gỗ ở làng Kim Bồng xưa –
Những nghệ nhân tài hoa đất Hội An (Faifoo-Tourane)

Khách sạn Bưu chính và Điện tín trên đường Courbet (nay là Bạch Đằng) – 
 Tòa nhà này mới đây đã bị phá bỏ và thay vào đó là một khách sạn cao tầng trên đường Bạch Đằng

 
Ngã tư Republique – Ferry – OLD (Hùng Vương – Trần Phú bây giờ)

 
Đường Courbet
 
Núi Ngũ Hành Sơn (ảnh chụp cách đây ngót 100 năm) với quang cảnh chùa cổ Tam Thai 
 
 rue Republique – Nay là đường Hùng Vương
Đường Champeaux về sau đổi là Republique
, nay là Hùng Vương – Khu vực trong ảnh bên trái là chợ vườn Hoa, 
nay là khu đất “vàng” đang xây dựng bãi đổ xe ngầm và khu đất bên phải là khu triễn lãm
 84 Hùng Vương nay cũng đang được xây dựng thành khu cao ốc của thành phố Đà Nẵng.
Đường Hà Nội xưa! nay là đường Hùng Vương, con đường buôn bán sầm uất nhất nhì Đà Nẵng.
Nhà thông tin *đường Hùng Vương ngày nay.
Trụ sở của ủy viên cộng hòa thuộc đoàn đại biểu Đà Nẵng – 
Tòa nhà nằm ở góc ngả tư Yên Bái – Hùng Vương bây giờ
 

 
Nhà hàng trên bến Bạch Đằng trước 1975 – OLd


Đình làng Hải Châu, chụp năm 1952. – Old photo-
Nơi thờ tự các tộc họ, nguyên quán từ thôn Hiếu Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn,
phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, đã theo vua Lê Thánh Tôn vào Nam bình Chiêm từ năm 1471
và định cư ở luôn lại đây. Những cư dân đầu tiên nầy và con cháu họ đã có công lớn
 trong việc hình thành thành phố Đà Nẵng như ngày nay.

Ga Chợ Hàn (Gare de Tourane Marché) ( Old photo ) được xây dựng trong những năm 40,
nhằm thuận lợi cho việc bốc dỡ hàng hóa đi các nơi trong nước. Đến những năm 90 ga nầy
bị phá bỏ để làm con đường Bạch Đằng đẹp như ngày nay.
Viện Bảo tàng Cham được lập vào năm 1919. Bức ảnh nầy cho thấy thời kỳ nầy chưa có bảo tàng Cham. 
Những hiện vật được người Pháp tập trung về đây (vườn trưng bày) vào khoảng năm 1900
 trong đó có vật linh, bò Nandin, con vật tín ngưỡng của người Cham – Old photo-
 
100 năm trước- Phòng Thương mại & Nông nghiệp thời Pháp thuộc- Old
 
100 năm sau vẫn còn giữ kiến trúc cũ- present..
Nhưng nay vừa mới bị đập phá vào tháng 12/2010 để xây trường mẫu giáo ABC !
Cercle de Tourane nay là CLB thanh niên, số 30 đường Bạch Đằng
Bưu điện Đà Nẵng xưa (old photo)
Kiệu quan lớn đi chơi Bà Nà
Bà Nà xưa, một du khách bản xứ với áo dài, 
khăn đóng đang tần ngần dừng bước để tìm đường đi lên
Bà Nà xưa, đường đi phải qua nhiều “cầu khỉ”- “quan san” cách trở. 
Chỉ có những phu phen người Việt nầy mới đảm đương việc cán võng, 
gồng gánh cho khách tây mà thôi.
 
Đường lên Bà Nà!
 
Đường lên Bà Nà- phu phen phải gồng gánh hàng hóa cho người nước ngoài
trong điều kiện đường sá cách trở

ĐÀ NẴNG – THÀNH PHỐ TÔI YÊU

 

 
Tự thuở xa xưa, khi dưới đất còn chưa có những kì công vĩ đại, khi trên trời còn chưa phát hiện ra hàng tá vệ tinh bay vòng vèo, thì ngài Socrates, một bậc hiền triết của mọi nhà hiền triết đã từng phát biểu rằng: “Nếu đó không phải là tình yêu hoặc chiến tranh thì đó không phải là cuộc sống.”  

Tôi là một con người bình thường và nhỏ bé, không đủ nhiệt huyết và sự tham vọng đến độ điên rồ để chọn chiến tranh, tôi chọn tình yêu, để tình yêu chính là cuộc sống của mình.

 

Sông Hàn – Ảnh Như Mai
Khi còn bé, tôi đã biết yêu quê hương, đất nước qua lời ru của bà, của mẹ. Chập chững vào lớp vỡ lòng, tôi biết yêu Tổ quốc mình qua bài học đầu đời từ thầy cô giáo. 
Lớn dần lên, tôi nhận ra rằng tình yêu tôi dành cho quê hương xứ sở không còn bao la như trước nữa. Nó dần thu hẹp lại bởi với trái tim non nớt lúc ấy không đủ sức để yêu vu vơ mọi miền quê trải dài hàng ngàn cây số. Và thế là tôi để tình yêu ấy hẹp lại một chút, nhưng sâu lắng hơn và đằm thắm hơn, tôi yêu quê tôi, yêu mảnh đất đã sinh ra và nuôi tôi khôn lớn nên người.
Đêm Đà Nẵng

Nhưng vòng xoay của cuộc sống cứ cuốn tôi đi, cho dù tôi yêu quý quê hương, yêu  quý mảnh đất nơi chôn nhau, cắt rốn của mình cũng đành nén lại, tôi chọn Đà Nẵng làm bến đỗ của mình. Tôi cũng không biết tình yêu với thành phố này bắt đầu từ đâu, tôi chọn Đà Nẵng hay chính Đà Nẵng đã chọn tôi để gần 30 năm qua, bao lần ra đi là bấy nhiêu lần tôi quay trở về và sau mỗi lần ấy, Đà Nẵng càng thêm gắn bó với tôi hơn.

Tình yêu Đà Nẵng trong tôi thuần khiết và giản dị như bao tình yêu quê hương đất nước khác, cũng bắt nguồn từ những cảnh vật thân thuộc hàng ngày. Tôi yêu những con phố thoáng đãng ngập tràn nắng mai, yêu những buổi hoàng hôn ven sông Hàn với những khuôn hình rực lửa… Yêu những con đường sầm uất, tấp nập, xen lẫn kẻ bán người mua là âm vang của nhịp điệu cuộc sống trong những buổi tan tầm.  
Đường Bạch Đằng – Ảnh TrongPV
Những tuyến đường đã thấm đẫm trong ký ức của tôi là Bạch Đằng, Trần Phú, con đường ngày hai buổi tôi đón, đưa con đến trường. Khi đi trên con đường Bạch Đằng thoáng mát, ấn tượng với tôi là bất chợt vang lên một giai điệu quen thuộc từ hệ thống loa dựng sẵn ven sông. Có lẽ, tôi yêu nhất con đường Bạch Đằng, yêu không chỉ vì gia đình tôi đã từng sống và gắn bó ở đó khá lâu mà bởi khung cảnh yên bình với mênh mang sông nước đã được những người con của thành phố này vun đắp, điểm tô bằng những cây cầu tiện lợi về mặt giao thông nhưng vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ và ổn định dòng chảy cho lưu vực sông. Con phố với lối kiến trúc hài hòa, tao nhã, từ đơn giản đến hiện đại, đồ sộ và hoành tráng… Xen lẫn không gian của đá, bê tông là hoa, lá, cùng với những  bức tượng đá được tạo hình rất công phu và tỉ mỉ. 
Sông Hàn Đêm – Ảnh Như Mai
Nếu bạn đến đây vào ban đêm, bạn mới thấy hết được vẻ lunh linh của dòng sông Hàn. Dòng nước rực rỡ hơn dưới ánh sáng huyền ảo từ hai bên bờ tỏa xuống, mới nghe được tiếng nói, cười, đi lại nhộn nhịp của những người tản bộ ven sông. Khi lang thang dọc bờ sông này tôi đã cảm nhận được hết sự yên bình và thanh thản mà thành phố này mang lại. 
Tôi yêu Đà Nẵng nhiều nhất có lẽ là bởi nét văn hóa của nó. Thành phố với sự phát triển bền vững, phố xá ngày một hiện đại hơn nhưng vẫn giữ được nét hài hòa, yên ả. Sự vận động của thành phố ngày càng thêm sầm uất nhưng không xô bồ, giành giật lẫn nhau để vươn lên.
Bạch Đằng đông – Ảnh TrongPV
Nơi tôi sống người với người không phải chen chúc nhau, giữa những rộn ràng của thành phố ta vẫn có thể tìm được những phút giây tĩnh lặng cho riêng mình. Hãy đến đây và hòa mình vào cuộc sống thường nhật, bạn sẽ thấy sự tao nhã mà tôi muốn kể qua nhiều góc nhìn. Cái dễ thấy nhất là giao thông ở Đà Nẵng không chật chội, không có những giờ phút phải nhích từng căn ti mét trong giờ cao điểm. Nếu quan sát kĩ hơn, bạn cũng sẽ thấy phố phường, nhà cửa ở đây không chõi màu sắc kiến trúc với nhau, không giành giật của nhau những khoảng không gian và ánh sáng, vì thế những dãy phố luôn tạo cho bạn một cảm giác hài hòa, êm dịu. 
Cầu Rồng – Ảnh TrongPV
Còn nhiều nữa những nét văn hóa mà cuộc sống nơi đây khiến bạn cảm nhận rõ rệt về một thành phố yên bình, một cuộc sống không áp lực và thật sự thoải mái. Ludwig von Mises, một nhà kinh tế học lỗi lạc từng nói rằng “suy cho cùng, nguồn gốc của mọi sự văn minh đều bắt nguồn từ sự phồn vinh của dân cư”. Tôi nghĩ điều này đúng, ít nhất là với thành phố nơi tôi sống và tôi luôn tự hào về nơi này – nơi tôi đang sống là một thành phố giàu có, với hạ tầng cơ sở được đầu tư và xây dựng khá chuẩn mực. Nổi bật nhất phải nói đến những cây cầu bắc qua sông Hàn, mỗi cây cầu là một nét kiến trúc độc đáo và đều toát lên vẻ đẹp thanh thoát nhưng không kém phần hùng vĩ – vẻ đẹp của sự phồn vinh cùng sắt, thép và xi măng.
Cầu Thuận Phước – Ảnh Như Mai
Tình yêu dành cho một thành phố không thể tách rời khỏi tình yêu giữa những con người với nhau. Ở nơi đây, tôi đã nhìn thấy những con người hiền lành, chân chất, không xô bồ và ít khi gặp phải sự va chạm, xô xát. Con người Đà Nẵng mộc mạc, cởi mở và mến khách. Có thể nói, người Đà Nẵng là hội tụ tính cách của cả hai miền Tổ quốc, dù với chất giọng nằng nặng, mang đặc trưng của nắng gió và nồng hơi biển cả mặn mòi.  Nhưng với chất giọng mộc mạc ấy, những lớp người nơi đây đã kể cho nhau nghe và kể cho bạn bè trên mọi miền đất nước về quá khứ hào hùng của mảnh đất này. Mảnh đất mà tướng Genoully và Palnanca với những chiến thuyền hùng mạnh đã phải thất thế, bỏ đi trước sự chiến đấu anh dũng của quân, dân nơi đây dưới sự chỉ huy của tướng Nguyễn Tri Phương trong cuộc chiến xâm lược của Pháp vào năm 1858. Và còn cả câu chuyện về nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, xuất thân từ đất Quảng hiếu học với phong trào Duy Tân lừng lẫy một thời đã đi vào sử sách. 
Cầu Trần Thị Lý
Còn nhiều, nhiều lắm những điều tôi muốn nói về “mối tình” với Đà Nẵng, nhưng làm sao kể hết những tâm tình của kẻ đang yêu qua vài câu chữ?! Nhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng 29/3, tôi lan man một chút để thấy mình vẫn biết yêu quê hương xứ sở, vẫn còn biết rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, biết vui buồn với đổi thay của con người và của thành phố nơi mình chọn làm bến đỗ.
Như Mai, 29/3/2013

LÊ VĂN NGHĨA : VỊ QUỐC VONG THÂN

Lời dẫn : Ngày tháng này 1972 – Cố Thiếu Tá Chi đoàn trưởng Chi đoàn 1/4 chiến xa Lê Văn Nghĩa đã VỊ QUỐC VONG THÁN
……..

VƯỢT TRƯỜNG SƠN VÀO KHU 5

Sau gần một tháng vượt Trường Sơn vào chiến trường Khu 5, Trung tá Lê Trung Ngôn không có thời gian nghỉ ngơi vì như anh đã ghi trong nhật ký “Quân khu đang bước vào đợt 2 của chiến dịch. Mọi việc chuẩn bị rất khẩn trương”. Được giao phụ trách lực lượng công binh của quân khu, ông đã tổ chức “mở đường” đảm bảo cho “đánh to, thắng lớn” như lời của Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên nói với ông trước ngày lên đường vào Khu 5…
“Mở đường” vượt sông Thu Bồn

Ngày 23-7-1972: Được lệnh về Trà Linh tham gia việc chỉ huy vượt sông. Từ ngày 10-7, quân khu đã điều 2 tiểu đoàn của Trung đoàn công binh 270 (có một chiến sĩ đi cùng, tên là An, nay là Đại tá, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 270, Quân khu 5-PV) đến làm ngầm ở Trà Linh. Trung đoàn 270 đã huy động được mỗi ngày độ 250 người làm, đã hoàn thành được một đường xuống bến, kè được một cái ngầm dài 120m, rộng 10-15m. Số đá bỏ xuống kè tới 700m3.
Hôm mình đến, ngầm chưa hàn khẩu xong. Là vì anh em lấp từ hai bên lại, khi đến chỗ giữa là chỗ sâu nhất, nước lại chảy xiết nhất nên bỏ đá chỗ ấy rất khó khăn. Anh em lo 2 vấn đề: Một là, nước chảy mạnh như vậy, xe qua có trôi không. Hai là, ngầm hẹp như vậy, xe có qua được không. Mình đã trả lời với anh em là xe không trôi và ngầm anh em làm tới 15m là rộng quá. Chỉ cần 6m là xe đi được.
Tối 24-7: Ra bờ sông thường trực với anh em, lo việc hàn khẩu và tới 24 giờ thì xong, xe qua được.Tối hôm đó, cho qua sông theo kế hoạch là 2 xe tăng và 7 xe Zin 157. Có một tình huống là khi chiếc xe tăng thứ hai qua được 2/3 ngầm thì đứt xích. Phải chữa và kéo mất hơn nửa giờ.
Tối 25 bỏ đá củng cố lại ngầm tới 9 giờ tối thì cho xe qua. Hôm nay chỉ sang được 7 xe tăng, 8 xe Gát vọt tiến kéo theo 6 khẩu pháo 37mm. Tới 1 giờ sáng có một tình huống đặc biệt: 1 pháo 37 bị lật đổ giữa ngầm, sau đó lại 1 xe vọt tiến và 1 pháo 37 nữa lật nghiêng. Thế là giữa ngầm có 1 xe vọt tiến và 2 pháo 37. Không kéo được, đành phải ngụy trang mà ngụy trang cũng thật khó vì ngầm này chưa lộ, nếu hôm sau địch trông thấy thì thật là phiền, lộ cả vấn đề chiến lược. Mình chủ trương là đưa các sọt đá chất xung quanh, cắm các cây khô lên trông như hòn đá nổi giữa sông. Mãi 7 giờ sáng kiểm tra xong mới về. Suốt ngày không ngủ được. Máy bay trinh sát bay qua, bay lại 8 lần nhưng vẫn không phát hiện được.

Đồng chí Chu Huy Mân chụp ảnh lưu niệm với cán bộ Trung đoàn công binh 83 tại chiến trường Khu 5 năm 1973 (đồng chí Lê Trung Ngôn đứng ngoài cùng, bên trái). Ảnh do gia đình cung cấp

Ngày 26 có hai chủ trương: Một là, phải kéo cho bằng được các xe pháo lên. Hai là, làm lại cái ngầm khác. Về kéo, mình đã cho đấu 3 cái xe Zin 157 từ trong bờ rồi dùng tời kéo vào. Đầu tiên kéo được 1 pháo 37mm. Sau đó kéo xe Gát kèm theo pháo vì không có cách nào mở pháo ra khỏi xe. Một vấn đề khó là không có cách nào mắc dây tời vào đầu xe được vì chỗ ấy nước chảy xiết, mà chỗ móc của đầu xe sâu gần 2m, không ai có thể lặn xuống móc được. Cuối cùng phải cho một xe tăng chạy ra đứng ở phía thượng lưu ngăn nước cho anh em lặn xuống. Đây cũng là biện pháp liều vì lúc ấy cái ngầm đã bị xói sâu. Nhưng rồi cũng giải quyết được việc móc dây. Dùng 2 tời kéo một xe vọt tiến nằm nghiêng, sau đuôi lại có một khẩu pháo 37 ở chỗ nước sâu 2m. Một cái tời khác kéo lật xe lại. Cuối cùng kéo được tất cả 1 xe và 2 pháo lên bờ. Bị ướt nhưng không hư hỏng gì.
Trong khi ấy, anh em tập trung làm cái ngầm thứ 2 từ 10 giờ sáng tới 24 giờ thì xong. Đêm ấy sang được 3 xe tăng, 1 xe ATC, 2 pháo 130mm kéo bằng ATC, 3 pháo 37mm kéo bằng xe vọt tiến và 4 xe vọt tiến, 2 xe Zin chở đạn. Như vậy là trước 3 giờ sáng, việc kéo xe đổ cũng làm xong, việc làm ngầm mới cũng hoàn thành và tất cả những xe cần đưa qua đều đã qua sông được hết.
Cái ngầm thứ nhất làm mất 3 ngày, cái ngầm thứ hai chỉ làm mất một ngày.
Đồng bào bảo là các anh gan thật, dám lấp sông Thu Bồn cho xe qua. Và cũng là lần đầu xe của ta và pháo lớn của ta qua sông Thu Bồn.
Tối hôm qua, khi xe đổ ở dưới ngầm thì mình có lệnh về quân khu họp. Nhưng về đang lúc khó khăn này thì không đành nên mình đã xin phép ở lại. Tối 26, sau khi tất cả xe pháo sang sông, mình leo lên cái xe ATC kéo pháo cuối cùng qua sông, đi 5km thì nghỉ và sáng hôm sau về quân khu.
Tối 27 về tiền phương của quân khu, gặp anh Hai (Hai Mạnh, tức đồng chí Chu Huy Mân, lúc đó là Tư lệnh Quân khu 5-PV), anh Hai bắt tay khen. Được biết là mấy hôm xe qua sông, đồng chí Tư lệnh rất lo lắng, nhất là khi xe đổ…
Ngày 1-8: Mình lại ba lô trên vai đi đến huyện đội Quế Tiên, gặp Tiểu đoàn 1 để giao nhiệm vụ, tổ chức trinh sát và hợp đồng với xe tăng. Mấy hôm nay, địch thả bom nhiều nơi: Ở Hiệp Đức, ở Trà Linh và gần chỗ quân khu ở. Trước khi mình đi, bom cũng thả ở gần đây, đất nắp hầm đã rơi xuống hầm…
Chuẩn bị cho trận Quế Sơn, Tiên Phước

Ngày 5-8-1972: Được gọi về chỉ huy sở vì kế hoạch có thay đổi. Sau đó lại vác ba lô nghiên cứu đường đi từ đường 16 về Tiên Phước, chuẩn bị cho sau đợt đánh Quế Sơn, sẽ chuyển xe tăng qua đánh Tiên Phước.
Đi nghiên cứu 4 ngày từ mồng 10 đến 13. Lần này đi có mang theo cả điện đài và tổ khảo sát, cán bộ xe tăng, tới 21 người.
Ngày 14-8: Nghiên cứu xong, đã điện báo cáo về nhà, đang nằm bên bờ suối Lung, đợi các đơn vị thi công đến. Đường dài 24km, đi vào cách ấp chiến lược 2km và cách quận lỵ Tiên Phước 4km.
Nói qua mấy nét về Chiến dịch Quế Sơn hiện nay: Sau khi ta đánh chiếm Hiệp Đức hồi tháng 5-1972, địch co về giữ tuyến Quế Sơn. Tuyến Quế Sơn-Tiên Phước cách nhau 20km, đều nằm ở phía đông quận lỵ Hiệp Đức hơn 20km, tạo thành một hình tam giác Hiệp Đức – Quế Sơn – Tiên Phước án ngữ thung lũng Quế Sơn.
Sau khi mất Hiệp Đức, địch tập trung về giữ Quế Sơn, Thăng Bình. Địch có Trung đoàn 5, Trung đoàn 6 thuộc Sư đoàn 2 là lực lượng chủ lực độc nhất còn lại của tỉnh Quảng Nam. Tiêu diệt được Quế Sơn cũng là tiêu diệt được tập đoàn mạnh nhất của địch ở Quảng Nam.
Đợt 1 bắt đầu từ ngày 23-7, chủ trương diệt các cao điểm xung quanh Quế Sơn. Trong 1 ngày ta đã diệt gần gọn được các cao điểm, diệt 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng gần 2 tiểu đoàn khác. Sau đó tiếp tục đánh phản kích, đánh tiêu diệt từng đại đội, tiêu hao lực lượng địch, đồng thời chuẩn bị các mặt cho trận đánh quyết định vào Quế Sơn…
Trong đợt 1, ta chỉ sử dụng vũ khí thông thường, chưa xuất hiện pháo 130, cao pháo 37mm và xe tăng cho nên trong thời gian chuẩn bị cho đợt 2, công binh có nhiệm vụ làm đường và làm bến đưa các binh khí kỹ thuật nói trên qua sông Thu Bồn, làm đường gỡ mìn cho xe tiếp cận vào Quế Sơn và chuẩn bị đường đi Tiên Phước. Khi tiến công Quế Sơn, toàn thể các lực lượng vũ trang của các địa phương sẽ có đánh phối hợp. Nay mai sẽ bắt đầu.
17-8: Bắt đầu tấn công Cấm Dơi-Quế Sơn. Lần đầu pháo tầm xa 130, cao pháo 37, A72 xuất hiện ở Quân khu 5 và đã bắn rất trúng.
Tới ngày 19-8, ta đã tiêu diệt và giải phóng toàn bộ Cấm Dơi, làm chủ quận lỵ Quế Sơn. Kết quả chiến dịch là rất to lớn, về mặt tiêu diệt sinh lực địch, cũng như về ý nghĩa chiến lược, ý nghĩa chính trị.
Ngày 31-8: Sau khi chuẩn bị gần xong các phần công binh cho trận đánh Quế Sơn, mình nhận nhiệm vụ đi nghiên cứu đường để sau khi đánh Quế Sơn thắng lợi, ta sẽ cơ động tăng và pháo sang đánh quận lỵ Tiên Phước.
Mình xuất phát từ Sở chỉ huy tiền phương của quân khu từ ngày 10-8. Ngày 14 nghiên cứu xong tuyến. Đường dài 28km từ đường 16 tới cổng ấp chiến lược thuộc quận lỵ Tiên Phước, trong đó có 24km làm trước, còn 4km cuối cùng vì gần địch nên sẽ làm trong đêm nổ súng.
Đường thì ngắn, khối lượng chẳng là bao, thời hạn lại được nửa tháng, giá mà có một tiểu đoàn công binh thì hoàn thành nhiệm vụ rất dễ dàng mà cũng chẳng tốn công sức gì lắm. Nhưng lực lượng lại không có, gạo cho bộ đội không có nên rất vất vả…
Nhưng cuối cùng ngày 30-8, đường cũng tạm xong. Chắc chắn là ngày mai tất cả xe tăng và pháo đều vào được.

Ngày 22-9: Hôm nay là ngày rằm tháng 8, ngày sinh của vợ. Cũng vì vợ sinh vào ngày rằm tháng 8 nên mới đặt tên là Tố Nga. Đáng lẽ ngày này là ngày vui của các con nhưng năm nay chắc chẳng có gì vui được. Rất thương, rất nhớ vợ và các con. Nhưng biết nói cái gì được, vào đây mọi tin tức thư từ đều rất khó khăn. Từ ngày đi khỏi nhà tới nay chưa được một tin gì. Chắc vợ con cũng chẳng có gì vui: Bom đạn, sơ tán. Chỉ mong chúng nó được bình yên và được học hành cho tới ngày hòa bình.
Mấy hôm nay được tin ở Quảng Ngãi thắng lớn. Ta đã chiếm Ba Tơ, đang đánh Mộ Đức và Đức Phổ. Nếu có một sư đoàn nữa, ta sẽ chọc thẳng về Tam Kỳ, rồi từ đó vào Bình Sơn, Sơn Tịnh, phối hợp với Sư đoàn 2 từ Mộ Đức đánh ra và với Sư đoàn 3 đang tác chiến ở vùng Bông Sơn, Tam Quan. Nếu Khu 5 có 4 sư đoàn hoạt động trong 1 tháng nữa thì ta làm chủ được phần lớn vùng đồng bằng. Thời cơ rất thuận lợi nhưng lực lượng ta bị hạn chế…
(Nhật ký của Thiếu tướng Lê Trung Ngôn)